Cài đặt tùy chỉnh

Tùy chỉnh
Mục lục
Đánh dấu

Đại Nam Dị Truyện

Chương 4: Phù thủy thu binh

Ngày cập nhật : 2026-01-17 01:52:14
M
ột năm sau khi Phạm Đình Sơn mất, nhằm vào năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi ba1782, tại trấn Sơn Tây xảy ra hạn hán vào tháng tư kèm với nạn hoàng trùngchâu chấu. Nạn đói cũng theo đó mà tràn tới.
Ban đầu, nồi cơm không còn trắng như thường nữa, mà độn lẫn những dong, những khoai, những chuối. Dần dà, cũng chẳng còn cơm. Hai bữa cơm một ngày dần thay bằng một bữa, rồi thì hai ngày một bữa. Trâu bò đều phải cầm cố cho nhà giàu, gà, vịt thưa dần vì được bán đi hoặc thịt ăn dần.
Rồi đến mèo, chó, người ta không thể để nuôi nữa, cũng phải mang ra thịt ăn. Chỉ vài tháng sau, không còn lấy một con chó con mèo nào trong làng, vì nhà nào thương lắm, tiếc lắm cũng đành thịt ăn, nếu không sẽ bị trộm bắt mất.
Người ta đổ ra sông đánh cá, bắt tép, mà những thứ ấy cũng lay lắt khi được khi không. Ruột sắt lại, người ta hè nhau ra đồng bắt chuột. Rồi chuột cũng cạn dần. Thường thì chẳng ai dám động đến cá trê gần bãi tha ma vì ghê cá trê ăn thịt người chết, nhưng vốn dĩ cơn đói mạnh hơn nỗi sợ, cá trê mả rốt lại cũng chui vào bụng.
Cuộc sống của người dân lúc này chỉ xoay quanh chuyện ăn và ăn. Sáng dậy hỏi hôm nay có gì ăn, tối đi ngủ nghĩ mai có chết đói không.
Chúa Trịnh cứu đói bằng cách bắt ép nhà giàu phải nộp thóc gạo để phát chẩn. Nhưng dân vẫn đói mà các quan được mùa to. Gạo phát chẩn được trích một phần trộn lẫn mùn cưa phát cho dân chúng, phần còn lại các quan giữ lại bán kiếm lời. Nhà giàu thì tha hồ thu về trâu, bò với giá chỉ bằng một nửa bình thường. Rốt lại, nước chảy chỗ trũng, chỉ có dân nghèo là khổ mà thôi.
Thời buổi đó, mỗi ngày trong trấn có rất nhiều người chết, một phần là dân của trấn, phần khác là những người hành khất xin ăn từ các vùng nông thôn hẻo lánh hơn. Thực ra họ chỉ đi ngang qua đấy, vì mục đích của họ là kinh thành.
Mặc dù kinh thành không dễ sống hơn, nhưng ở đó có lương thực, có lúa gạo, khoai sắn, may ra bòn được chút gì. Ngồi im thì đằng nào cũng chết, chi bằng tha phương mà tìm cơ hội sống mong manh. Người đói giống như nước chảy từ các khe nhỏ về khe lớn, từ khe lớn về suối, từ suối đổ về sông, từ sông đổ ra biển. Kinh thành chính là biển lớn mà họ trông chờ, Tam Dương cũng là một khe suối nhỏ trong dòng chảy ấy.
Càng ngày, người đói tràn về càng nhiều, người chết dọc đường nhiều không kể xiết. Quan trong huyện ngay từ tháng năm đã cho đào một cái hố vuông mỗi cạnh ba trượng, sâu một trượng, lệnh cho tất cả mọi người phải tránh xa trong vòng một dặm. Dân chúng vốn đã trải qua nhiều trận đối đầu truyền tai nhau rằng cái hố đó dành để chôn người chết, quan cấm đến gần thứ nhất là nhằm tránh dịch, thứ hai là để lòng dân khỏi hoang mang.
Huyện Tam Dương nổi tiếng vì mỗi khi xuất hiện người chết đói đều có những chuẩn bị chu đáo khiến cho dịch bệnh do tử thi gây ra chưa bao giờ bùng phát ở nơi đây. Cũng vì chuyện này mà quan huyện được triều đình khen thưởng nhiều lần.
Khi ấy Phạm Đình Quyết đang lang thang xin ăn ở chợ huyện Cốc Dương. Cái hố chôn người cách Cốc Dương không đến năm dặm.
Quyết năm ấy tròn mười ba tuổi, trước tình cảnh như vậy, hắn đã cầm chắc chết đói, điều đó cũng hiển nhiên như việc hắn là một kẻ ăn mày. Từ hơn một tháng nay, chẳng có ai cho Quyết một hào một cốc hay chút gì ăn được. Hắn buộc phải ăn đủ thứ. Ban đầu hắn bẻ trộm chuối, thêm chút rau tập tàng. Rồi thì cỏ, hoa, rễ cây, côn trùng, đôi khi cả giun đất hắn cũng phải cố nhét cho đầy bụng. Quyết còn rình ngựa quan lại hoặc nhà giàu đại tiện thì bới tìm những hạt ngô chưa tiêu hóa hết trong đống phân để cầm cự.
Có hôm có gã lý trưởng đi uống rượu về, say quá, đứng ven đường vạch quần đái một bãi, rồi nôn thốc nôn tháo. Quyết trông thấy, mừng rỡ, chẳng kịp chờ tên kia đi, cứ thế lao vào bốc lấy bãi nôn mà ăn. Một người cứ nôn, còn một người cứ ăn. Hôm đó, hắn được một bữa no. Nhưng bữa no chua loét!
Suốt cả ngày hắn đào, hắn bới, hắn ngó nghiêng. Bấy giờ hắn không còn đi thẳng được nữa, thường phải bò. Xương sườn bắt đầu nhô cao. Các khớp xương lồi ra, dường như chúng đang sưng tấy lên.
- Chắc chắn mình sẽ chết! - Hắn tự nhủ.
Những người chết không có ai thân thích, không nhà không cửa, không mồ mả, những người chết oan uổng, chết đuối, chết vì dã thú, chết trận... đều trở thành cô hồn vất vưởng trong nhân gian, không được siêu thoát, không được ai hương khói thờ phụng, mà đến cả mồ mả để nương náu cũng không có.
Người chết đói chắc chắn trở thành cô hồn!
Chết đói vốn là một trong những cái chết đáng sợ nhất bởi nó diễn ra từ từ, nếu chết đuối trong vài phút, chết khát trong vài ngày, thì chết đói diễn ra nhiều tuần, có khi đến cả tháng trời. Cảm giác đói khát sẽ giày vò người ta ngày này qua ngày khác, kéo dài nỗi đau đớn tuyệt vọng cho đến khi thân xác kiệt quệ. Chẳng những thế, người đói chết đi trở thành ma đói, là thứ ma ngày đêm bị dằn vặt bởi cơn đói khi còn sống. Chúng luôn lang thang, vất vưởng đi kiếm thức ăn, nhưng ngặt một nỗi không bao giờ cảm thấy no bụng. Chẳng thế mà trong lục đạo luân hồi, có một đạo được gọi là "ngạ quỷ", dành riêng để chỉ những con ma đói khát.
Con người bình thường tuân theo lễ giáo, gia phong, luân thường đạo lý, ngợi ca nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Nhưng tất cả những thứ thuộc phần người như thế chỉ có thể tồn tại khi người ta được no cái bụng. Càng đói, phần con càng mạnh mẽ hơn. Đói ít thì người ta gắt gỏng, khó tính. Đói nhiều, người ta phá bỏ luân lý, chỉ chăm chú việc tìm đủ thứ để thỏa mãn dạ dày. Đói quá, phần người biến mất, người ta trở thành con thú điện cuồng tìm cách sinh tồn.
- Phải ăn thịt! - Quyết nghĩ đến cái hố chôn xác cuối làng. - Phải, trong vòng vài chục dặm quanh đây chắc có lẽ chỉ còn cái hố đó còn thức ăn.
Ý nghĩ ấy không rời khỏi đầu Quyết. Thực ra đó cũng chẳng phải do hắn nghĩ ra, mà là mệnh lệnh của cơ thể đưa ra để bảo vệ mạng sống. Đối với người quân tử, ăn xác người để rồi phải chịu sự giày vò của tâm can thì thà rằng một gươm chết quách đi, nhưng Quyết là một gã ăn xin. Một gã ăn xin thì cần gì luân thường đạo lý. Hắn chỉ cần duy nhất một đạo lý của tạo hóa ban cho muôn vật: được sống. Thêm nữa, Quyết sinh ra trong nhà làm nghề khâm liệm, việc tiếp xúc với xác chết đối với hắn chẳng có gì đáng sợ. Vì trước khi sa sút, theo lệ nhà Quyết, con trai lên tám đã được cha dẫn theo để học nghề.
Đêm đó nhằm vào ngày rằm tháng bảy. Quyết lết từng bước từng bước đến bãi chôn người với các hố lớn hố nhỏ. Hắn biết người chết quá nhiều, những tên lính theo lệnh thường lại làm quấy quá cho xong chuyện nên các hố chôn người này không mấy khi được lấp kín. Chả thế mà mùi bốc lên từ các hố ấy cách xa cả dặm vẫn ngửi thấy, đúng là xú khí xung thiên. Quyết định bụng sẽ tìm một cái xác nào mới để duy trì sự sống. Hắn mang sẵn bùi nhùi lửa, lửa sẽ xua đi mùi xú uế và hắn sẽ nướng qua thứ thức ăn đó - hắn cố không nghĩ đến hai tiếng xác chết - hắn sẽ được ăn và cuối cùng, hắn sẽ sống!
Quyết lê người đến một cái hố, có lẽ là hố lớn nhất. Quả như hắn đoán, những tên lính thậm chí không hề lấp đất. Ngay khi thò đầu vào hố, hắn đã hít phải mùi tử khí nồng nặc bốc lên. Hắn lập tức nôn thốc nôn tháo ra một thứ nước vàng vọt, chua loét, tanh tưởi.
Quyết cố trấn tĩnh:
- Nếu không ăn thì chết.
Quyết thử một lần nữa, vẫn còn đủ tỉnh táo để không lặp lại sai lầm ban nãy. Hắn nghiêng người, kê đầu bên miệng hố, thò tay với xuống mò mẫm tìm. Không khó khăn gì để tìm được những thi thể kia, vì chúng đã lấp gần đầy hố.
Quyết quơ được một bàn tay. Hắn bặm môi kéo mạnh. Nào ngờ thứ ấy không hề nặng nề như hắn nghĩ mà nhẹ bẫng. Quyết hét lên một tiếng, hết hồn vì nghĩ người đó còn sống. Hắn ngã ngửa ra sau, lăn một vòng. Cú ngã làm hắn đau ê ẩm và sợ. Quyết định thần lại, nhìn kỹ thì thấy mình đang cầm một bàn tay. Một bàn tay nát rữa và tím tái. Thảo nào nó rời ra ngay khi hắn kéo.
- Không thể ăn thứ này được. - Hắn nghĩ thầm và gượng quay người lại một lần nữa.
Đột nhiên Quyết thấy nhiều tiếng động sột soạt. Hắn nhìn quanh và kinh hồn bạt vía. Trong bóng đêm, xung quanh cái hố này không chỉ có mình hắn, còn có rất nhiều bóng đen. Những bóng đen này, hoặc là bò như hắn hoặc là lết đi một cách khó nhọc. Tất thảy đều gầy gò, còm cõi, lẩn khuất trong bóng tối, nhìn kỹ mới thấy nhiều vô kể, và đang hướng tới cái hố này. Quyết hoảng hồn:
- Đây liệu có phải là những hồn ma?
Một vài bóng đen lúc này đã đến được miệng hố, bất chấp hôi thối mà lao hẳn xuống. Trước mắt Quyết, những bóng đen lúc nhúc dưới ấy đều đang tìm kiếm gì đó. Khi tìm được, chúng đều cắm cúi gí sát đầu vào vật đó.
Chúng đang ăn!
Quyết bây giờ mới vỡ lẽ ra, những bóng đen này đang ăn xác. Bọn chúng lao xuống hố tìm kiếm những cái xác mới chết để ăn. Thì ra, không phải chỉ có một mình Quyết nghĩ đến chuyện ăn xác người.
Bỗng trong hố vang lên một tiếng hét làm tất cả các bóng đen và Quyết phải giật mình. Ra là có một bóng đen khi lao xuống thì bất tỉnh, một bóng đen khác thấy cơ thể người này chưa bị phân hủy, bèn cắn ngay một miếng vào bắp tay. Nào ngờ người này chưa chết, tỉnh dậy hét lên một tiếng rồi đạp người kia ra. Cuối cùng cả hai đều ngất đi. Rất nhanh, hai cái bóng đen ngã ra lại bị những bóng đen khác xâu xé lấy.
Bây giờ không còn là người sống ăn xác chết nữa. Mà là người sống ăn thịt người sống! Phải đến ba bốn chục bóng đen tranh giành lẫn nhau dưới hố, tham gia vào trận hỗn chiến bằng chút sức tàn. Trận đấu tuy là của những kẻ sắp chết nhưng cực kỳ khốc liệt và man rợ.
Quyết kinh hãi quá, nhưng không còn sức bỏ chạy nữa nên đành trân trân ngó vào hố mà không thể làm gì. Đột nhiên Quyết nhận ra có cái gì đó thúc sau lưng mình, tiếp đó là một cơn đau chói ở bắp chân.
Một người sắp chết đói khác đang cố cắn vào bắp chân hắn.
Quyết hét lên một tiếng, nhưng lực đã kiệt, hắn liền ngất đi.
Mưa!
Mưa làm hắn tỉnh. Chẳng biết đã qua bao nhiêu lâu, trời lúc này tối thẫm, cơn mưa lớn đã che khuất ánh trăng rằm. Xung quanh Quyết, mọi vật đều mềm nhũn và ướt sũng. Cảnh hỗn loạn lúc trước không còn nữa, nhưng mùi hôi thối khủng khiếp vẫn chưa tan. Hắn kinh hãi nhận ra:
- Mình đang nằm dưới hố!
Đang lúc vừa bàng hoàng, vừa hoảng sợ thì Quyết thấy có tiếng hú dài. Tiếp đến là mùi nhang phảng phất bay tới. Quyết hoảng hốt nghĩ:
- Lẽ nào mình đã chết? Chết làm con ma đói, mình đã thành một cô hồn rồi sao? - Quyết tê tái nghĩ thầm.
Trong lúc hắn chưa thể quen ngay với cái ý nghĩ mình đã thành một cô hồn thì bỗng có một tiếng thì thầm. Âm thanh này thoạt đầu thì ấm áp nhưng dần dần nghe ra ma quái rờn rợn. Tiếng nói lớn dần lên, lúc dịu dàng lúc mạnh mẽ, có khi khẩn khoản van xin, có khi nài nỉ ỉ ôi, có lúc mê hoặc lòng người, nhưng cũng có khi dứt khoát như ra lệnh, dữ dằn như quát nạt. Nghe những tiếng ấy người ta vừa cảm thấy mê mụ phải tuân theo, vừa sợ hãi không dám trái ý.
Qua một hồi lâu Quyết mới đủ bình tĩnh để nghe từng câu từng chữ. Tiếng thì thào đó giống như một bài ca, nhưng nghe kỹ thì hóa ra giọng ca ấy ca lên nhiều bài, mỗi bài một vẻ, liên miên bất tận. Sau mỗi bài, lại có một tiếng hú dài. Quyết nghe thấy ca rằng:
Hồn kia bất đường
Không chốn dung thân
Áo quần rách bươm
Khớp sưng mặt lấm
Cơm ăn không có
Bụng đói tha hương
Vất xưởng về đâu
Hồn ơi hồn hỡi!
Miệng ta khiển tướng
Giọng ta điều binh
Tập hợp đội hình
Về đây quy tụ
Ăn bát cơm trắng
Ngậm miếng thịt to
Uống bát rượu đầy
Ngửi mùi hương quý
Ta ban áo giáp
Ta ban cơm canh
Bạc vàng kim ngân
Tha hồ thụ hưởng
Hồn kia bất ngưởng
Về với quân ta
Có bạn âm binh
Có trên có dưới
Hồn hỡi, hồn ơi
Không còn vất vưởng
Về đây, về đây...
Quyết vừa nghe đến hai từ "âm binh" thì giật nẩy người. Hắn từ nhỏ đã theo cha ông làm nghề khâm liệm, thường xuyên tiếp xúc với cái chết nên những chuyện về ma quỷ hắn cũng có đôi chút kiến thức.
- Đây chẳng phải văn khấn âm binh sao? - Quyết kinh hãi nghĩ thầm. - Hôm nay lại là rằm tháng bảy!
Hắn lạnh hết sống lưng. Ngày xá tội vong nhân, chính là ngày âm phủ mở cửa để các vong hồn được tự do đi lại trên dương thế, một số ít trong đó được siêu thoát, đầu thai, số khác thì chỉ được tự do vào duy nhất ngày đó trong năm.
Đêm rằm tháng bảy là đêm mà dương thế nhiều vong hồn vất vưởng nhất. Các nhà đều thắp hương cúng bái để bố thí thức ăn cho các vong hồn. Lệ tục bố thí đó một phần vì lòng nhân đạo, cảm thương cho những kiếp lầm than chưa trót, nhưng phần khác là do người ta lo sợ bị vong quấy nhiễu.
Đêm rằm tháng bảy cũng chính là cơ hội mỗi năm có một lần để các phù thủy thu binh. Binh ở đây chính là âm binh. Để thực hiện trận, thầy phù thủy trước hết phải yểm thân, nghĩa là phải tự bảo vệ mình không để cho ma quỷ xâm phạm. Muốn như thế, phù thủy có nhiều cách thực hiện tùy theo từng chi phái tu tập khác nhau. Thường thì các phù thủy dùng bùa yểm thân. Bùa yểm cũng có nhiều loại, có người phải dùng kiếm ấn của một vị tướng quân nào đó nhuốm máu đủ chín mươi chín người, có người dùng xác trinh nữ, có người lại chỉ dùng linh phù...
Bùa mỗi loại mỗi khác nhưng đều có chung công dụng là giữ cho phù thủy hay vị tướng âm binh không bị chính âm binh của mình hoặc các vong hồn vất vưởng hãm hại. Tùy theo công lực và mức độ công phu của từng loại bùa mà hiệu quả mạnh yếu khác nhau. Ví dụ như vẽ bùa yểm quỷ thì người vẽ rất quan trọng. Nếu người vẽ đã hành nghề lâu năm, số lượng âm binh lớn thì bùa đó đủ sức trấn yểm đa số các loại linh hồn hay ma quỷ. Thế nhưng, nếu chẳng may gặp những vong hồn mạnh thì sẽ táng mạng hoặc bị chính vong hồn đó sử dụng, gọi là vong nhập, trở thành con rối trong tay vong hồn đó.
Tiếp đó, các phù thủy lập trận thu binh. Trận pháp của chúng cũng đa dạng khó lường. Chưa xét về phương pháp điều binh khiển tướng, chỉ xét về cách thức dụ quân đã có hai cách chính là "chế" và "dụ". Chế là áp chế vong bằng cách cưỡng ép linh hồn vào trận, dụ là phủ dụ vong bằng cách dỗ ngọt.
Trận chế bao giờ cũng khó lập hơn nhưng thu được binh mạnh hơn vì linh hồn càng oan khuất thì càng mãnh liệt. Lập trận chế cần theo bát quái ngũ hành để ma quỷ đi vào đó thì lạc không thể thoát ra, từ đó các thầy phù thủy mới có thời gian áp chế. Những binh thu được từ trận chế có sức mạnh như thế nên một khi phản chủ thì phù thủy sẽ thê thảm vô cùng, không những bản thân mà con cháu đều bị liên lụy. Có phù thủy non tay bắt vong quá mạnh, bị vong nhập vào mình, đêm về lẻn vào phòng con ruột, làm chuyện đồi bại. Chẳng những thế, khi xong việc tự nhiên người ấy lại la hét om sòm, khiến cả làng chạy sang xem. Lúc đó, tay phù thủy ấy thật là sống dở chết dở, bị người người dè bỉu khinh miệt, không bỏ làng đi không được. Những nỗi oan như thế cực kỳ khó giải vì nghề phù thủy thường phải giấu kín, thành ra nhiều kẻ bị coi như loại cầm thú mà không sao thanh minh được. Đó mới chỉ là một ví dụ, chuyện trả thù của vong thật ra vô cùng đa dạng, bị vong nhập rồi cướp của giết người, phóng hỏa đốt nhà... đều là những chuyện người trong giới phù thủy vẫn truyền tai nhau, nhắc nhau phải cẩn trọng.
Trận dụ dễ lập hơn, nhưng thường không thu được binh mạnh. Các thầy dùng trận dụ nhiều khi chỉ cần đặt linh vật như chín mươi chín đồng xu được ngậm trong miệng chín mươi chín người chết (dĩ nhiên những đồng xu này phải đào trộm mộ mới lấy được) để thu hồn người chết rồi dùng lời lẽ mê hoặc để phỉnh dụ. Loại trận pháp này giống như một loại giao dịch của thương nhân, không có ràng buộc chặt chẽ. Bởi thế, những âm binh thu được từ trận dụ thường không đủ sức làm các việc lớn như chữa bệnh, hại người hay bảo vệ phù thủy mà thường chỉ có thể tát nước, thám thính hay đi ném đá, gạch vào nhà người khác.
Ngoài ra, phù thủy có thể lập "chế dụ hỗn trận", là loại trận pháp kết hợp cả hai dạng trên. Mới nhìn qua, kể cả người trong nghề cũng khó nhận biết được ngay, chỉ khi nào pháp lực phát huy tác dụng mới có thể biết được trận lập ra thuộc dạng nào.
Quyết hiểu rằng mình đang nằm ngay giữa trận đồ thu binh của một phù thủy nào đó. Trận thu binh mà được lập đúng ngày xá tội vong nhân tại nơi nhiều người chết đói thế này, thì số lượng vong hồn sẽ nhiều không kể xiết. Chỉ có phù thủy cao tay ấn mới dám lập trận lớn nơi có nhiều vong thế này. Quyết không khỏi kinh hãi, vì hắn biết, chỉ cần có mặt ở đây lúc này thì bất kể đã chết hay còn sống đều là chuyện chẳng lành. Nếu hắn đã chết mà nghe lời khấn này, quy thuận theo gã phù thủy kia thì khác nào bị giam cầm, mãi mãi vất vưởng không được đầu thai, nhưng nếu không nghe theo thì có thể bị đội âm binh sẵn có của gã phù thủy kia tiêu diệt. Còn như chưa chết thì phàm là người không có căn, lỡ chẳng may nhìn thấy thầy phù thủy bày trận, sớm muộn sẽ bị âm binh làm cho điên rồ ngẩn ngơ.
Vậy mà Quyết đang ở đây, ngay giữa "trận thu binh"!
Khi đó mưa đã dứt, gió thổi nhẹ, Quyết dần tỉnh táo hơn, nhưng cái lạnh thấu xương bắt đầu giày vò hắn. Quyết biết mình chưa chết vì hắn vẫn thở. Hắn cảm nhận rõ hơi thở nặng nhọc của mình hòa lẫn với mùi rữa nát từ các tử thi.
Bỗng Quyết nấc lên, hắn vừa ngửi thấy mùi thịt lợn, mùi thịt gà, mùi giò lụa, mùi xôi. Người đói rất nhạy với mùi thức ăn, dù cho nó có quyện với những thứ hôi thối đến đâu chăng nữa. Chẳng qua khi nãy hắn mới tỉnh dậy, trời lại mưa lớn, tinh thần khiếp sợ nên đến giờ mới ngửi thấy mà thôi. Thịt gà! Dù hơn năm nay không được ăn thịt gà nhưng Quyết chưa từng quên được cái mùi thơm ngậy này. Nước miếng hắn tứa ra.
Chợt có tiếng chuông, leng keng, leng keng. Gió thổi.
Quyết ướt sũng và lạnh run rẩy. Gió càng mạnh hắn càng lạnh. Hắn biết, hoặc phải bò được lên miệng hố hoặc là sẽ chết ở đây. Mặc kệ tà ma hay quỷ thần, hắn cũng phải rời khỏi chỗ này. Biết đâu, chờ tay phù thủy làm phép xong hắn có thể xin được thụ lộc? Hắn biết, thầy phù thủy một khi nuôi âm binh, thường tự coi mình là tướng, không bao giờ thụ lộc của âm binh, tức người dưới của mình. Khi đó Quyết có thể được chén đẫy con gà kia.
Quyết cố lật người lại. Dù đã quen hơn với cái mùi mục rữa của cơ thể người, nhưng mùi xú uế xộc thẳng vào mũi vẫn khiến hắn không tài nào thở được, bụng hắn quặn lên, lại nôn mửa thêm một chặp nữa. Hắn chỉ chực nằm ngửa để khỏi phải chịu đựng cái thứ kinh khiếp này. Nhưng hắn biết, nếu cứ ở đây, hắn sẽ chết, hoặc sớm hoặc muộn.
Tiếng chuông lại leng keng, leng keng. Gió thổi mạnh hơn.
Hắn đã bắt đầu bò được một đoạn. Thực ra nói là bò chứ hắn chỉ có thể trườn từng đoạn rất ngắn và lấy tay đẩy người nhích thêm đôi chút. Lúc này đôi chân hắn tê cóng không thể nhúc nhích được, việc di chuyển cực kỳ khó khăn.
- Phải sống!
Quyết lẩm nhẩm vì không muốn mình ngất đi lần nữa. Hắn hiểu rằng nhờ có cơn mưa ban nãy, cơn mưa đêm rằm tháng bảy mà hắn có thể tỉnh lại, nếu mưa đến chậm một chút, có lẽ hắn đã chết.
Leng keng, leng keng, leng keng. Gió thổi rất mạnh.
Sau một hồi cố gắng, Quyết chỉ còn cách miệng hố chừng nửa cánh tay.
Leng keng, leng keng, leng keng. Gió mạnh dữ dội, cây cối vặn mình răng rắc.
Những tán cây đen đúa lắc lư trên nền trời tối thẫm. Hắn thấy có gì đó không ổn. Có cái gì đó ngày càng gấp gáp.
Bây giờ thì tiếng chuông vang lên liên hồi, không thể đếm được từng tiếng, tiếng nọ lẫn vào tiếng kia, tiếng kia nuốt mất tiếng nọ. Gió tự dưng ngừng bắt những cây cối vẫn tiếp tục ngả nghiêng. Rồi như có tiếng hát văng vẳng từ xa. Cũng không phải tiếng hát. Giống như tiếng nói chuyện mà cũng không hẳn là tiếng nói chuyện. Tiếng động này đang từ xa dần dần tiến lại.
Bỗng cái giọng ma quái ban nãy quát lên một tiếng:
- Tới!
Tiếng quát khiến Quyết sởn gai ốc. Tiếng động kia dường như cảm ứng với tiếng quát, lại tiến nhanh hơn. Hắn kinh hoàng nhận ra: vong đang đến! Các vong đang vào trận!
Lúc này, Quyết nằm sấp ngay sát miệng hố, ngẩng đầu lên có thể thấy cảnh tượng xung quanh. Hắn đoán chừng tên phù thủy kia đã giết hết các bóng đen ăn xác khi nãy, vô tình để sót lại mình hắn.
Quyết nhất thời cũng không biết nên làm thế nào, bò tiếp ra khỏi hố thì sợ bị tay phù thủy phát hiện. Hắn đành nằm im nghe ngóng nhưng trong thâm tâm cũng tò mò, bèn tì cằm lên tay, ghé mắt ngó nhìn.
Lúc này đã tạnh mưa, mây đen tan hết, trăng rằm soi rõ mọi vật như ban ngày. Quyết thấy ngay trên một bãi đất trống cạnh hố, có một bàn lớn được bày biện rất cẩn thận. Trên bàn có một lư hương bằng đồng nhỏ, một bát hương xanh biếc, cả hai đều được trang trí cầu kỳ hình rồng phượng. Khói hương từ bát và khói trầm từ lư bốc ra nghi ngút. Khói trầm có một màu đỏ tía.
Vốn có hiểu biết về hương khói, Quyết biết ngay đây là tuyệt phẩm "tử khí trầm" quý hiếm thượng hạng. Thứ trầm này vốn từ mạn ngược chuyển về. Chữ "tử" ở đây không có nghĩa là chết mà là đỏ tía vì loại trầm hương này khi đốt lên cho khói màu đỏ tía đặc trưng. Mùi hương của tử khí trầm cực kỳ đậm, trong vòng mấy chục trượng đều ngửi thấy.
Trầm hương vốn hình thành từ cây dó bầu, hương trời bay theo gió đáp vào chỗ bị thương trên thân cây, lâu ngày, cây thấm hương trời biến thành trầm hương. Những cây dó bầu có hương lực cao thường là những cây xơ xác, thân có u, bướu, bị sâu đục, gò mối đóng, bị giông gió làm gãy cành hay bị sét đánh.
Loại tử khí trầm này, phải hội đủ hai yếu tố, một là bị huyết trùng đục, hai là bị sét đánh. Thứ tự đục trước đánh sau không được thay đổi. Tương truyền tử khí trầm một khi đã xuất hiện thì át hết các thứ hương khác.
Vậy tại sao vẫn có mùi hôi thối nồng nặc của xác chết trong không khí? Chuyện này có hai nguyên nhân. Thứ nhất là, hương trong bát hương là loại "hồng diện hương", cũng là tuyệt phẩm trong các loại hương. Xét về bản chất, trầm bao giờ cũng hơn hương một bậc bởi hương ngoài chất thơm còn có các tạp chất khác trộn lẫn như mùn cưa hay bột để tạo độ dẻo và chắc... Loại hương quý này dù không át được tử khí trầm nhưng tử khí trầm gặp hồng diện hương thì hai bên tương tranh khiến hương lực của trầm bị giảm đi một phần. Thứ hai là vì xú khí của tử thi cũng là thứ mùi thối hàng đầu trong thiên hạ nên tử khí trầm đã bị giảm hương lực do hồng diện hương lại gặp thứ cực phẩm hôi thối ấy, rốt lại, tuyệt phẩm tử khí trầm không phát huy được hết công hiệu. Tính ra vừa có một cuộc long tranh hổ đấu của ba loại mùi hương mà cuối cùng vẫn chưa phân thắng bại.
Nên nhớ, đối với phù thủy lập trận, mùi hương cực kỳ quan trọng. Hồn theo hương mà tới, vì vậy mà mỗi khi cúng bái người ta thường thắp hương, một phần là coi đó như lễ vật để cung tiến, một phần cũng là để hồn dễ về. Trầm hương thầy cúng sử dụng càng quý thì càng dẫn dụ được nhiều vong. Nhưng thầy cũng phải cân nhắc năng lực của mình, Huyền thuật toàn thư có viết: "Trầm quý dẫn vong quý, vong quý trị được thì đại quý, không trị được thì đại họa."
Lúc này Quyết mới nhìn rõ, trên bàn bày biện đủ cả hương, hoa, đèn, trà, quả, thực, gọi là lục phẩm tiến đống. Giữa bàn bày nguyên một con lợn quay lớn, còn có đến năm con gà xếp xung quanh, rồi xôi, hoa quả, chè... toàn thứ đồ thượng hạng. Ngoài ra có hai ngọn đèn dầu bày hai bên, một ấm trà mạn nghi ngút khói, hai bình hoa cúc vạn thọ vàng rộ cùng nhiều thức cúng khác nữa.
Quyết nhìn thấy thức ăn trước mặt, nước dãi túa ra nhiều không kể xiết. Nhưng trước tình thế này, hắn có gan bằng trời cũng không dám lao đến tranh ăn.
Cạnh bàn, một người đàn ông cao mà gầy đét đang đứng, tay đặt trong một cái bát lớn. Người này tóc xõa dài đến tận thắt lưng, một phần trên đỉnh đầu được cạo bớt thành một vành tròn. Gã mặc một chiếc áo giao lĩnh, hai vạt đen bắt tréo trước ngực, thường người Việt khi ấy chỉ dùng vải trắng giản dị, những kẻ có danh vọng cao hoặc rất giàu có mới hay dùng vải đen.
Dị nhân này đầu tóc dài xõa ra phủ gần như kín mặt, lấp ló dưới mái tóc đó là một đôi mắt dài như lá liễu và sáng như chớp. Ánh mắt ấy tựa hồ có thể phát sáng trong đêm tối.
Quyết lúc này cách bàn tế có một trượng, hắn thấy miệng tay phù thủy liên tục lầm bầm niệm chú. Nguyên là sau khi phù thủy gọi hồn về quanh trận thu binh, hồn thường không vào trận ngay mà lảng vảng xung quanh, tựa như con thú thăm dò cái bẫy trước khi chui vào. Đây là thời khắc rất quan trọng cho việc thành bại của trận thu binh tối nay. Nếu không dùng uy lực áp chế vọng vào trận thì phù thủy không thể thu phục vong được.
Lúc này nếu thầy dùng trận chế thì càng nguy hiểm hơn. Bởi vong bị thầy dùng uy lực thúc đẩy vào cũng giống như người ta thúc ép một con vật vào lồng, trở nên điên cuồng, phù thủy không đủ uy lực hoặc bùa hộ thân không mạnh sẽ bị vong hãm hại. Uy lực chính là cái thần thái tự có trong mỗi con người. Có người khi ta mới gặp lần đầu đã thấy quý mến, gần gũi, lại có người ta thấy sợ hãi. Uy lực này giống như năng khiếu của mỗi phù thủy, là cái trời cho, không bao giờ học được.
Dụng bùa là việc có thể học được, nhưng công phu rèn luyện cực kỳ gian khổ. Phù thủy cao tay có thể không cần yểm thân mà chỉ dựa vào uy lực bản thân đã đủ quy phục vong, thậm chí có vong thấy uy lực ấy mà tự theo hầu. Phù thủy hạng ấy có thể coi như đã đạt được cảnh giới tối cao, cực kỳ hiếm gặp. Tay phù thủy cao gầy trước mặt Quyết đây không có được tố chất đó, uy lực của gã tuy thuộc dạng khó tìm nhưng chưa phải là tuyệt thế. Song dường như gã hành sự rất cẩn thận.
Nghề nào có quy tắc nghề đó, nghề phù thủy tiếp xúc với âm giới, cũng như nghề khâm liệm, phải lấy thận trọng làm đầu, vì nếu chẳng may bị vong nhập thì hậu quả rất khó lường. Nhưng nghề phù thủy còn phải thận trọng hơn nghề khâm liệm một bậc, bởi một bên là khiển ma, một bên là hầu ma, tự nhiên thứ hạng đã phân rõ cao thấp.
Những chuyện như thế này, con nhà nòi về khâm liệm như Phạm Đình Quyết vẫn thường được nghe cha và nhiều người trong đám ma nhắc đến nên khá am hiểu. Người trước mặt Quyết lúc này, thần tướng lộ rõ ràng trên mặt, ánh mắt sắc như dao mài, chưa ra lệnh mà người khác đã phải thuần phục, chưa lên tiếng người khác đã phải tuân theo. Con người dữ tướng như thế này, thì không những dụ ma, mà thôi miên người sống cũng chẳng khó gì, kể ra gã cũng là cao thủ trong giới huyền thuật.
Lúc bấy giờ, trăng đã lên cao, trời quang mây tạnh. Ánh trăng vằng vặc soi mọi vật sáng rõ mồn một. Quyết giật mình kinh hãi vì nãy giờ hắn quá chú ý vào bàn lễ, khi nhìn xung quanh mới thấy vô số những bóng trắng là nhờ xếp thành một vòng dày đặc. Những cái bóng ấy chính là vong hiện Quyết nghe thấy những âm thanh thảm thiết phát ra ở khắp nơi, tựa như một mớ hỗn tạp của tiếng mẹ khóc con, tiếng la thét của những phạm nhân bị xử lăng trì, tiếng kêu gào của người ngã xuống vực...
Gió rít liên tục mà cây cối vẫn lặng như tờ. Một bầu không khí ma quái bao trùm. Âm thanh này, cảnh tượng này quả làm người ta rợn tóc gáy.
Gã cao gầy đứng trước bàn lễ quả tình là một phù thủy cao tay ấn, trước cảnh hồn về đông đúc hỗn loạn thế này mà gã không hề nao núng. Gã vẫn khấn khứa luôn miệng, không hề bối rối, như thể đây là chuyện diễn ra hằng ngày. Đột nhiên, gã thét một tiếng:
- Vào!
Tiếng quát này vừa to vừa đanh thép, tựa như tiếng tướng quân ra lệnh. Tiếng thét vừa dứt, tất cả các âm thanh đều im bặt, kể cả tiếng gió. Sau một hồi, Quyết thấy các bóng lần lượt đi theo một hướng, giống như sắp hàng đi qua trước bàn lễ. Hàng bóng trắng này diễu qua trước mặt Quyết. Nỗi tò mò còn thắng cả kinh hãi, hắn vẫn cố dòng tai, ghé mắt xem cho tường tận.
Khi mỗi bóng cách nhau ừng nửa trượng, mỗi khi qua trước mặt thầy phù thủy thì đều dừng lại, tựa như để thầy nhìn cho kỹ. Thầy nhìn vong một lúc, rồi lại quát:
- Qua!
Lập tức bóng trắng này rời khỏi bàn lễ, thoắt cái đã biến mất. Cũng có lúc thầy hô:
- Nhận!
Lập tức bóng trắng đứng ra một bên, tụ lại một góc mé tả bàn lễ. Qua một hồi rất lâu mới có mấy cái bóng tụ lại gần thầy. Lúc này thầy bèn lấy một vật trong một cái bát và bỏ sang bát bên cạnh. Nguyên là tay phù thủy này không phải loại vong tầm thường nào cũng nhận, mà chọn lọc, nuôi những ma mạnh có thể làm được nhiều việc hơn, hữu dụng hơn. Nuôi những vong yếu nhiều khi vô dụng, vì ngoài việc nghe ngóng, làm do thám hay trêu ghẹo đàn bà, trẻ con, thì thường chúng không làm được việc khác.
Những vong tụ lại bên cạnh thấy chính là những ma được thầy thu nhận. Còn vật trong bát là những hạt đậu đen, thầy yểm phép để vong ẩn vào hạt đậu, khi cần thì gọi ra, lúc không cần thì thu lại, đi đến đâu có thể đem đậu ra sử dụng đến đó, rất thuận tiện. Thông thường các phù thủy chỉ thờ âm binh trong các bàn thờ gần nhà, phù thủy có thể thu được vong vào hạt đậu cũng là hạng hiếm gặp.
Những chuyện này, Quyết hiểu được sáu bảy phần nhờ nghe cha kể lại, nhưng hắn chưa bao giờ thấy tận mắt. Hôm nay, nếu không tính đến nguy hiểm đang rình rập thì kể ra hắn cũng được một lần mãn nhãn. Lúc này, Quyết quên cả mình sắp chết đói, quan sát rất cặn kẽ, suy đoán từng việc, từng việc một.
Bấy giờ, trước mặt phù thủy là một dị vong. Gọi là dị vong vì bóng của vong này không nhờ nhờ như các bóng khác mà sáng dị thường, trong ánh sáng lộ sắc tía hồng, hình dạng cũng lớn hơn. Phù thủy nhìn chằm chằm hồi lâu, mặt không biến sắc, nhưng từ miệng gã, tiếng niệm dần to hơn.
Bỗng thấy cái bóng tía lắc lư, tiếng đọc chú của thầy phù thủy cũng gấp gáp theo nhịp lắc lư đó. Trán gã toát mồ hôi nhưng giọng vẫn ổn định, không lộ vẻ gì khác thường, trừ việc tiếng niệm to và nhanh hơn.
Nhưng dường như tiếng niệm này không khắc chế được vong. Vong này liên tục lắc lư thách thức. Đột nhiên, phù thủy ngừng niệm. Hai mắt gã mở to nhìn chòng chọc vào vong. Đột nhiên vong cất tiếng cười vang dội.
Gã phù thủy giật mình, lùi lại một bước, miệng thốt lên:
- Soái vong!

Bình Luận

0 Thảo luận