V
ào thời Lê Trung Hưng, những năm Cảnh Hưngtừ 740 tới 1786, tại trấn Sơn Tây, phủ Tam Đái, ở thôn Thượng có nhà họ Phạm Đình lừng lẫy khắp nơi với nghề khâm liệm.
Từ xưa đến nay, chẳng mấy ai coi khâm liệm là một nghề, bởi ngẫm lại, khâm liệm chỉ là cái việc lau rửa và đưa người đã khuất vào quan tài. Kể ra thì ở các làng xã cũng có những người hay được gọi mỗi khi có người chết, nhưng đó chỉ là làm thêm. Công việc chính của họ vẫn là trồng lúa, đánh cá hay đốn củi như người thường, khác chăng là họ có can đảm dám tiếp cận với tử thi mà thôi. Về cơ bản họ vẫn không thể lấy công việc đó mà nuôi sống gia đình và bản thân. Vậy nên chỉ gọi khâm liệm là việc, không gọi là nghề, càng chưa thấy ai dùng từ "nghiệp".
Bởi vậy, bảo rằng họ Phạm chuyên nghề khâm liệm có hơi quá chăng? Nhưng người ta có cái lý khi nói như thế, là vì họ Phạm khác biệt với những người làm khâm liệm thông thường. Họ Phạm không những sống nhờ vào việc hầu ma, mà còn sống dư dả. Hơn thế, cái nghề này vận vào gia tộc họ mà trở thành nghiệp, có muốn tránh cũng không được.
Dòng họ Phạm đã làm nghề này được nhiều đời. Dân làng vẫn truyền tai nhau rằng cách đây tám đời, họ Phạm có một người tên là Phạm Đình Phong, chính là tổ nghiệp.
Phong người nhỏ bé, gầy gò, lại vốn có bệnh hen suyễn từ nhỏ nên yếu ớt, đã vài lần tưởng như không thể chống đỡ được những cơn ho hen kéo dài, gia đình chỉ còn biết chờ quấn chiếu đem đi. Thuốc thang chạy chữa nhiều mà sức khỏe Phong cũng không khá lên là bao. Phong sống lay lắt, nhưng không chết, và người thôn Thương coi đó như một kỳ tích.
Phong vốn ốm yếu nên làm nông không nổi, mà buôn bán thì nhà không có vốn, cha mẹ Phong rất buồn phiền vì nghĩ khi mình trăm tuổi không biết Phong sẽ sống ra sao. Việc mưu sinh đã khó, tất nhiên họ càng không dám màng tới việc lấy vợ sinh con của Phong.
Hai vợ chồng nghĩ đến chuyện sau này của con mà lo ứa nước mắt. Họ ngày đêm cực nhọc làm lụng dành dụm cho con có chút vốn giắt lưng. Ngoài những việc đồng áng, họ còn làm thuê cho thiên hạ, ai nhờ gì làm nấy, nắng mưa không quản, khó nhọc không chùn. Cái đạo lý "nước mắt chảy xuôi" ấy âu cũng là điều dễ hiểu. Dân làng thấy hoàn cảnh như vậy rất thương, có việc gì cần lại gọi hai vợ chồng, thỉnh thoảng giúp đỡ thêm chút gạo, khoai, tôm, tép.
Nhưng ở Phong có điều lạ lùng. Khi Phong lên năm, cứ mỗi lần mẹ Phong đi gánh phân tưới mảnh vườn sau nhà thì Phong lại đòi đi theo. Ban đầu mẹ Phong thấy vui vì có con đi cùng. Nhưng có hôm trời nực quá, thương con, mẹ bắt Phong ở nhà. Phong khóc toáng lên như đứa trẻ bị cướp mất kẹo, miệng kêu:
- Cứt, thơm!
Mẹ lấy làm lạ, bèn hỏi cho ra nhẽ, thì Phong nói là phân có mùi thơm, muốn đi theo để ngửi cho thỏa. Mẹ Phong nghĩ là con nói đùa, khi chồng về bà đem chuyện này nói lại. Cha Phong tức giận vô cùng, nghĩ con mình thích đi chơi mà không được đi nên mới ăn nói lung tung, bèn nọc ra đánh một trận.
Một lần khác, trong nhà Phong có mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, tìm mãi không biết từ đâu. Qua vài ngày sau, cha mẹ Phong mới biết là Phong đem con chuột chết gói vào trong lá chuối, giấu dưới gầm giường. Lúc lôi ra xác chuột đã trương phềnh lên, dòi bọ lúc nhúc.
Hai vợ chồng bấy giờ mới cả kinh, tin rằng chuyện con mình có dị tính là thật. Cha mẹ Phong giấu kín không dám nói việc này với ai vì sợ dân làng biết được sẽ coi là Phong bị ma ám, có khi còn bị đuổi khỏi làng.
Kể từ khi ấy, họ nơm nớp lo sợ, tuyệt đối không để Phong tiếp xúc với những thứ ô uế, đến nhà tiêu cũng phải làm thật xa, mỗi khi Phong đi tiểu đi tiêu đều có người kèm.
Có điều, càng ngày cậu bé dường như càng không cưỡng lại được mùi hôi thối. Đối với Phong, chúng mê hoặc giống như á phiện. Cứ thấy ở đâu có mùi hôi là Phong lại nán lại nơi đó mãi không thôi.
Chuyện này kéo dài đến khi Phong mười ba tuổi. Năm đó đê sông Thao vỡ, làng có lũ lớn, người chết đuối nhiều không kể xiết. Nhà Phong may mắn thoát nạn. Khi lũ rút đi, xác người và động vật la liệt khắp nơi. Qua mấy ngày ngâm trong nước, những cái xác này bắt đầu bốc mùi thối kinh người. Xem tình cảnh này, chỉ có Phong là thích thú.
Không chỉ riêng làng ấy mà rất nhiều làng, xã khác nơi con sông Thao chảy qua đều bị lụt to. Quan trấn tyQuan đứng đầu trấn lo sợ dịch bệnh bùng phát, truyền lệnh hỏa tốc xuống tận các xã, hạn trong ba ngày các xã trưởng phải lo xong việc chôn cất xác chết, nếu không làm kịp sẽ bị khép tội nặng.
Trong số các xã trưởng tại huyện Tam Dương có một người tên là Trần Đan Tốn. Cha ông sang xã bên từ trước hôm xảy ra lũ lụt và rồi mất tích luôn. Ông Tốn chắc mười mươi rằng cha mình đã chết trong trận lũ. Vốn là người con có hiếu, ông cho người nhà lùng tìm xác cha khắp nơi suốt mấy ngày mà không sao tìm ra. Thương cha, ông Tốn buồn rầu lo âu đến mất ăn mất ngủ.
Sau khi xác chết được các xã chôn cất đâu vào đấy, ông Tốn vẫn có chủ ý tìm kiếm thi thể cha. Khoảng nửa tháng sau, có tin rằng cụ nhà bị nước cuốn trôi xuống mãi tận thôn Thượng.
Ông đến tận nơi xem thực hư, hỏi han những người chôn cất. Nghe họ tả hình dáng béo mập dị thường của tử thi, ông Tốn biết đó đích thị là cụ nhà. Ông thương lắm, vật vã khóc bên mộ một lúc lâu.
Khi ông toan quay về, định bụng sau ba năm nữa quay lại cải táng cụ thì có người ngăn lại. Người này vốn là thầy phong thủy, sau khi nhìn quanh khu đất, thầy chỉ vào mộ phần mà nói với ông Tốn rằng:
- Cụ nhà được chôn nơi đồng không mông quạnh thế này thì làm sao mà tàng phong? Mạch nước cuồn cuộn mà thẳng thế kia, thì làm sao mà tụ khí? Huyệt táng vào nơi này, chỉ e rằng sau ba năm, ông không còn mạng mà quay lại thay áo cho cụ.
Ông Tốn giật mình hỏi phải làm sao.
Thầy đáp:
- Lập tức đưa về chôn cất tại nơi khác.
Ông Tốn lại hỏi:
- Chôn xuống rồi, lẽ nào lại đưa lên? Đó chẳng phải đại kỵ sao?
Thầy đáp:
- Phép đó thì tôi hóa giải được, chỉ xin ông tin tôi, tôi ắt có cách.
Ông Tốn nghe theo. Bèn bàn định tìm đất chôn mới, xong xuôi đâu đấy mới sai người chuẩn bị quan tài, tính chuyện quật mộ lên.
Nhưng vốn dĩ nói thì dễ mà làm thì khó. Ông Tốn vốn định cậy người làm khâm liệm, bốc mộ trong làng giúp cho. Nào ngờ gã cũng đã mất mạng trong trận lụt vừa rồi, lại thêm việc quật mộ vốn là đại kỵ, mặc dù chủ nhà đồng ý nhưng chẳng ai dám làm.
Ở đây ông Tốn chỉ có vài người bà con. Vừa nghe đến chuyện đào mồ, ai cũng lắc đầu quầy quậy. Họ hàng còn như thế, người ngoài làm sao chịu đứng ra cáng đáng? Ông Tốn treo thưởng rất cao, tìm mãi mới được ba người ăn mày bần cùng chịu giúp.
Đêm đó, ông Tốn thắp hương, làm lễ, khấn vái đâu đấy, đợi đến giờ đẹp mới ra lệnh đào mộ. Người làng hay tin, kéo đến xem rất đông.
Bởi vì, một là mộ chôn vội nên sơ sài và khá nông, hai là lụt vừa rút đi, đất còn nhão cho nên ba người ăn mày chỉ đào một lúc đã thấy manh chiếu rách lộ ra. Ông Tốn vừa nhìn thấy manh chiếu rách thì xót xa khóc lớn.
Nào ngờ bỗng nghe "bụp" một tiếng. Tiếp đến, một mùi thối khủng khiếp bốc lên khiến người xem đứng xung quanh đều tối tăm mặt mũi. Một số người không chịu nổi phải gập người nôn ọe.
Nguyên là xác cụ nhà ông Tốn vốn đã chết được đến nửa tháng, không thể tránh khỏi chuyện rữa nát, trương phềnh. Người chết vốn có thể hình to béo dị thường, thịt ít mỡ nhiều, vùng bụng người bình thường chết đi trương lên một phần thì cụ nhà ông Tốn phải trương to đến ba bốn phần. Những người ăn mày vốn được dặn dò cẩn thận để không cuốc vào tử thi, nhưng họ mới làm việc này lần đầu, tay chân luống cuống run rẩy, làm sao không sơ suất cho được. Vừa rồi một người ăn mày hạ cuốc sâu quá, trúng ngay bụng tử thi, khiến ổ bụng vỡ nát, nội tạng tung tóe nhầy nhụa bắn cả lên người mấy gã ăn mày. Ba người ăn mày thấy thế kinh hãi quá, vứt cuốc bỏ chạy một mạch. Người làng sợ quá cũng bỏ về, ai gan lì lắm mới dám đứng lại xem, nhưng chỉ đứng từ rất xa.
Cuối cùng, chỉ có ông Tốn với ông thầy phong thủy đứng trở lại bên mộ. Dù là người thân nhưng ông Tốn cũng phải đứng cách xa đến mười trượng mới tránh được con nôn mửa đang chực dâng lên nơi cổ họng. Nói đến chuyện tự mình khâm liệm cho bố, e rằng quá sức ông.
Thường thì người ta không sợ hãi khi ở cạnh thi thể người ruột thịt vì tin rằng vong của người ruột thịt không bao giờ làm hại mình. Ông Tốn cũng không sợ, mà đơn giản là không thể chịu nổi cái mùi khủng khiếp bốc lên từ thi thể cụ thân sinh.
Mấy lần ông Tốn nhắm mắt muốn tiến lên nhưng đều không cất nổi bước nào. Ông lo lắng thắt ruột vì tình huống này không thể chần chừ được lâu, nếu để đến gà gáy, tử thi lộ dương thì tai hại thật không kể xiết.
Đang lúc gay go ấy thì Phong đến.
Nguyên là chuyện quật mộ này cả làng đều biết, duy chỉ có cha mẹ Phong giấu biệt không cho Phong hay, sợ cậu ngửi thấy mùi thối lại kích động, lộ ra dị tính thì không tránh khỏi bị làng nước hắt hủi. Về sau, mùi bốc lên nồng nặc cả một vùng rộng lớn, không thể qua được mũi Phong. Mùi thối càng nặng, cậu bé càng bị hấp dẫn, ý muốn đến gần nơi có mùi càng thôi thúc. Cậu chờ cha mẹ ngủ say rồi lẻn ra ngoài, vì thế lúc này mọi người mới thấy cậu bé ở đó.
Khi ấy Phong tiến đến cách mộ có một trượng, mắt chăm chăm nhìn xác chết mà chẳng hề có dấu hiệu gì kinh tởm. Ông Tốn thấy thế, gọi cậu đến trước mặt rồi quỳ sụp xuống dưới chân cậu bé, van vỉ:
- Cậu bé ơi, hãy giúp chôn cha tôi, tôi xin trả ơn hậu hĩ.
Phong không hiểu sao người này lại làm vậy, liền hỏi lại:
- Ông bảo gì cháu ạ?
Ông Tốn thấy cậu bé ngây thơ thì cũng yên dạ phần nào, lúc này ông đã bớt kích động, không van xin nữa mà chuyển sang dỗ ngọt:
- Cháu giúp ta đưa cụ nhà vào quan, ta cho cháu rất nhiều tiền, tha hồ mua kẹo.
Phong hồn nhiên đáp:
- Cháu không cần tiền, nhưng ông cần gì, cháu sẽ giúp ông.
Ông Tốn mừng hơn bắt được vàng. Bèn quay sang nói với thầy đang đứng cạnh, bảo thầy hướng dẫn cậu cách khâm liệm. Thầy thấy thằng bé liệu chừng không làm nổi việc mang vác tử thi, nhưng ngoài nó ra, không ai dám đến gần mộ. Ông nghĩ hồi lâu, cuối cùng tìm ra một cách.
Thầy nhờ người mang lại một tấm vải và một tấm ván lớn, dặn cậu bé đặt một tấm bùa vào trán người chết rồi luồn tấm vải qua lưng xác chết, quấn xác lại thật chặt. Sau đó, ông dặn cậu đặt tấm ván bên huyệt, một cạnh kề vào xác chết, cạnh kia kê lên miệng quan tài đã chuẩn bị sẵn. Kế đến, ông bảo cậu bé luồn năm cái dây qua xác chết, đóng mấy cái cọc cố định một đầu dây lại... tất cả các chi tiết nhỏ nhặt nhất đều được ông thầy dặn rất kỹ lưỡng, rành rọt. Sau đó ông bắt cậu bé nhắc lại. Cậu bé nghe vài lần mới nhớ hết.
Phong sức yếu, vừa làm vừa thở hổn hển, phải mất mấy canh giờ mới xong chuyện thầy giao. Khi được tấm vải quấn quanh, mùi thối từ xác chết đã giảm bớt rất nhiều, ông thầy nhờ năm người thanh niên kéo các đầu dây. Dây vừa được kéo, cái thây lăn hai vòng trên tấm ván rồi chui vào quan tài.
Ông thầy đã tính kỹ việc cái xác lăn thế nào để khi rơi vào quan tài thì vừa vặn nằm ngửa mặt lên, âu cũng là sự sắp xếp rất tài tình. Sau đó, ông cho đậy nắp áo quan lại, đóng chặt đinh, yểm đủ sáu tấm bùa lên sáu mặt quan tài rồi cho khiêng lên xe. Công việc vừa xong thì gà gáy.
Ông Tốn và ông thầy nhìn nhau thở phào nhẹ nhõm. Riêng ông Tốn có phần xấu hổ vì không dám động vào thi thể bố. Nhưng ông nghĩ lại, thấy trời còn thương mình. Những người xem thấy mọi việc xong xuôi thì cũng vui chung với gia chủ, hoan hô ầm ĩ.
Ông Tốn đi về phía Phong, lúc này cậu mệt quá đã ngồi bệt xuống đất. Ông cầm lấy tay Phong, run run xúc động:
- Cảm ơn cháu, cảm ơn cháu...
Nói được đến đó, đã nghe tiếng ông thầy giục, ông Tốn liền ra lệnh chở quan về nhà, chuẩn bị việc mai táng. Đoàn người đi không ngừng nghỉ, đến tối về đến nhà thì thấy trong nhà báo tin vui rằng ông Tốn được thăng quan, trát xuống từ sáng sớm, tính ra, chính là lúc vừa yểm xong mấy tấm bùa lên quan tài. Ông Tốn cả mừng, không ngờ trong một ngày lại làm được hai chuyện lớn, mà đều suôn sẻ thành công cả.
Chỉ mấy ngày sau, câu chuyện đã đồn ra khắp cả trấn, ai cũng lấy làm kỳ lạ. Mọi người lại thêm mắm thêm muối vào khiến cho chuyện càng thêm ly kỳ. Ví như có người nói cậu bé chính là cụ cố nhập vào để tự liệm mình, có người lại nói thằng bé có bản năng thiên phú trong việc khâm liệm, có người lại nói ai mà được cậu bé khâm liệm cho thì dòng họ sẽ phát đạt, giàu có, thăng quan phát tài...
Các tin đồn vốn lan đi rất nhanh, nhất là khi có chứng cứ rõ ràng, bao nhiêu người đều nhìn thấy tận mắt. Chuyện thăng quan là thật, Phong là thật, cái xác là thật, cho nên ai cũng tin. Tiện thể người ta tin luôn cả những mắm muối được thêm vào.
Mẹ Phong ban đầu biết chuyện thì ngất xỉu tại trận. Bà tưởng mọi người đã biết chuyện con mình ưa mùi tanh hôi, sốc quá mà ngất lịm. Hai vợ chồng suy đi tính lại, thấy con mình rõ ràng là làm việc tốt, cũng không nỡ trách mắng. Nhưng họ lo ngay ngáy miệng lưỡi thế gian độc địa, vụ cho con mình bị ma ám, quỷ nhập thì chẳng còn đường sống. Nào ngờ, chẳng ai nghĩ đến chuyện cậu bé tại sao chịu được mùi hôi, mà chỉ khen cậu dũng cảm giúp người.
Ngay sau khi an táng cho xong xuôi, ông Tốn bèn đích thân mang hậu lễ gồm có vàng, bạc, trâu, bò, vải vóc sang nhà Phong. Ông thấy nhà Phong xiêu vẹo ọp ẹp quá, lại mua gỗ, thuê thợ khéo làm một căn nhà lớn. Chẳng những thế, biết cha mẹ Phong lo con mình sau này ốm yếu không có tương lai, ông liền mua mấy khoảnh ruộng tốt để tạ ơn ân nhân. Từ đó nhà Phong trở thành khá giả trong làng.
Lại nói, người chuyên làm việc khâm liệm của thôn Thượng trước đây đã chết trong trận lụt, cho nên làng bị khuyết mất chân này. Về sau, quanh làng nhà ai có việc hiếu lại đến nhờ cậu bé mát tay khâm liệm giúp. Phong bản tính ngây thơ, chất phác, cơ bản là người tốt, cũng không nề hà gì chuyện giúp đỡ mọi người. Dần dà, không chỉ trong làng, trong xã, mà đến huyện, đến trấn, ai cũng biết tiếng Phong.
Qua biến cố này, Phong có cái nghề trong tay, sự nghiệp hầu ma ngày càng nổi trội. Nghề này về sau được truyền lại cho con cháu. Phạm Đình Phong được coi là tổ nghề khâm liệm dòng họ Phạm Đình.
Trải qua mấy trăm năm, nhà họ Phạm Đình đã gây dựng được tiếng tăm lừng lẫy đồng thời cũng là dòng họ duy nhất chuyên làm nghề này. Đến thời Lê Trung Hưng, uy tín họ Phạm Đình rất cao, đến nỗi nhà chúa cũng biết tiếng, mấy lần sai bộ Lễ mời về làm quan nhưng họ đều từ chối.
Tuy thế, mỗi khi triều đình có việc trọng hiếu nhờ đến họ Phạm khâm liệm, họ Phạm đều không nề hà. Tính ra họ Phạm đã ba lần khâm liệm vua, bốn lần khâm liệm chúa. Phàm là các quan từ tam phẩm trở lên, hầu như ai cũng cố gắng để được họ Phạm khâm liệm. Dòng họ này ngày càng giàu có nhờ nghiệp ấy.
Về cơ bản, cái nghề khâm liệm này chỉ có một việc là đưa người chết vào trong quan tài. Nhưng quan niệm dân gian cực kỳ coi trọng chuyện sống chết, cho nên trong việc tang ma, có rất nhiều những quy củ cần phải nghiêm ngặt tuân thủ, chỉ cần sơ sẩy một chút thì linh hồn người chết sẽ không thể siêu thoát mà đầu thai được.
Thông thường, khi có người chết đi, cần phải tắm rửa sạch sẽ cho người chết, cắt móng tay móng chân cẩn thận, nhưng phải gói chỗ móng tay này lại để sau đem chôn cùng.
Nếu là người già mất đi thì phải được vuốt mắt rồi thay quần áo mới. Người ta lại bỏ cả gạo sống và tiền vào miệng người đã khuất, dùng làm thức ăn và lệ phí trên đường sang cõi khác.
Kế đến, người ta dùng đũa ngáng miệng người chết, phủ một tờ giấy hoặc mảnh vải trắng lên mặt, rồi buông màn thắp đèn đặt cạnh giường. Sau đó là lập một bàn thờ có bài vị của người chết.
Bấy giờ, người ta mới bắt đầu khâm liệm, dùng vải trắng cuốn thi thể người chết lại, không được để hở chỗ nào. Sau đó người chết được đặt vào quan tài, chân hướng ra ngoài cửa, gáy gối lên hai chiếc bát ăn cơm. Người ta còn bỏ thêm một bộ tổ tôm thiếu quân bát sách vào trong quan tài. Quan tài khi ấy được đặt ở nơi trang trọng nhất của ngôi nhà.
Lúc khâm liệm như thế phải có thầy cúng làm lễ. Trên quan tài được thắp nến, nam bảy ngọn, nữ chín ngọn, giữa mặt ván nắp đặt một bát cơm đầy, trên có một quả trứng gà kẹp giữa đôi đũa bông.
Những việc vừa nêu trên đây, càng kể chi tiết càng thấy chưa đủ.
Nhưng người nhà họ Phạm vốn khâm liệm theo một cách riêng. Trong quá trình khâm liệm, học thêm vào năm lễ nhỏ gọi là "nhập quan ngũ lễ", trong đó bao gồm lễ "phong nhãn", lễ "hộ cốt", lễ "thông lộ", lễ "tịnh xú", lễ "tiêu nhục". Năm lễ này về cơ bản là giúp cho vong hồn người mới mất tránh được những nặng nề hoảng hốt khi thân thể lìa trần.
Lễ phong nhãn để giúp vong tránh được thảm cảnh thấy cơ thể mình biến dạng phân hủy. Để làm lễ này người ta vuốt lên mắt người chết mỗi bên chín lần, niệm chú "Hướng thiên Vọng nguyệt".
Lễ hộ cốt thực ra rất đơn giản, chỉ là bọc quanh quan tài một lớp dược liệu cay, khi áo quan bị phân hủy, dược liệu này tan vào đất, khiến cho cá trê, chuột đồng hay các loại động vật khác sợ cay mà không dám đến "húc mả". Lễ này không có chú. Dược liệu này bí truyền, chỉ có họ Phạm nắm được. Điểm đặc biệt là dược liệu chỉ có tác dụng với các động vật phá hoại mộ phần, đối với các loài vật được coi là linh vật như rắn vàng thì dược liệu không có tác dụng xua đuổi.
Lễ thông lộ giúp cho vong hồn người đã khuất nhẹ nhàng hơn, di chuyển dễ dàng hơn. Khi thực hiện lễ thông lộ này, người ta dán hai tấm bùa nơi chân tử thi, niệm chú "Thiên lý đằng vân".
Lễ tịnh xá có lẽ là lễ kinh khủng nhất mà không kẻ khâm liệm nào khác ngoài người nhà họ Phạm dám làm. Lễ này thực ra là nhằm loại bỏ phân của người chết ra khỏi cơ thể để tránh những thứ xú uế còn lưu lại trong tử thi. Lễ này có lẽ ngoài cụ tổ Phạm Đình Phong ra, chắc con cháu đời sau theo lệ mà làm chứ không thích thú gì. Làm lễ này mà còn phải nhẩm chú thì quả là cực hình, cho nên lễ này không có chú. Người liệm dùng một dụng cụ đặc biệt hình ống lấy phân người đã khuất ra ngoài.
Lễ tiêu nhục là lễ giúp cho thân thể phân hủy để quá trình cải táng thuận lợi hơn. Lễ này không thực hiện khi khâm liệm mà thực hiện khi hạ huyệt. Cũng giống như lễ hộ cốt, họ Phạm dùng dược liệu rải xuống huyệt trước khi đưa quan xuống, rồi niệm chú "Hoang địa bạch cốt".
Thuật này cao thâm ở chỗ nếu có hiện tượng tơ hồng khi chôn nơi đất kết thì đất xung quanh chuyển màu đỏ gạch, nếu huyệt khô ráo, nước đóng giọt thì đất xung quanh chuyển màu vàng. Nhờ vào màu sắc này có thể dự đoán tình trạng mộ phần phía dưới, nếu thuận lợi thì không phải cải táng.
Năm lễ trên là năm lễ bắt buộc, đám nào cũng phải thực hiện. Ngoài ra, họ Phạm còn phát triển nhiều thuật khác cao thâm hơn, ví như thuật tính thời gian sập ván. Sập ván là khi quan tài mục nát, đất phía trên sụt xuống, nhà họ Phạm cũng có thể tính được thời điểm này dựa vào chất gỗ và chất đất. Thuật tính này rất phức tạp, áo quan làm từ các loại gỗ khác nhau như gỗ vàng tâm, gỗ ngọc am, có bề dày khác nhau thì thời gian sập ván khác nhau. Quan tài nhiều vùng lại có thể là tổ hợp của nhiều lớp gỗ khác nhau, đặt trên vô số loại đất khác nhau như đất đồi, đất sông, đất thượng du, đất đá... Cho nên khó mà biết trước được thời gian sập ván. Thuật tính sập ván vào thời điểm bấy giờ không ai làm được ngoài nhà họ Phạm.
Trong nhiều trường hợp, các yêu cầu của gia chủ cũng rất khác nhau, ví dụ như có người chết không toàn thây, nay tìm được đủ các phần thân thể về trong một quan nhưng vẫn lo ngại vong linh không toàn thây đau đớn cùng cực, lại phải nhờ đến thuật "hợp thi". Ngoài ra còn có vô số các thuật khác như sản phụ sinh con mà chết thì phải làm thế nào để vong hồn thôi quẩn quanh tưởng nhớ con khiến cho đứa trẻ sợ hãi mà vong cũng khó siêu thoát. Hoặc là khi có hiện tượng quỷ nhập tràng thì phải khâm liệm ra sao... Bao nhiêu thuật khâm liệm mà gia tộc họ Phạm mất mấy đời, trước sau hết mấy trăm năm mới tạo dựng nên, muốn kể ra cho hết e là quá cuồng vọng.
Tuy nhiên, thuật quan trọng nhất của nhà họ Phạm được gọi là "liệm thuật", dân gian vẫn gọi đơn giản là thuật "quấn xác". Bao giờ họ Phạm cũng khâm liệm cho người chết bằng cách dùng vải trắng quấn quanh xác chết, lớp băng sau chồng lên lớp băng trước đúng bằng một phần ba chiều rộng bằng vải, sau đó mới đưa vào áo quan. Điều này tạo nên nét đặc biệt cho các thi thể được họ khâm liệm. Thuật này lại được phân ra làm nhiều phân thuật khác nhau như kiểu quấn từ trên xuống gọi là "thuận hành liệm thuật", hay từ dưới lên trên gọi là "nghịch hành liệm thuật". Nếu có đặt tiền vàng cùng tử thi trước khi quấn vải thì gọi là "giáp đồng nghịch hành liệm thuật" hoặc "giáp đồng thuận hành liệm thuật". Có trường hợp vải phủ lên mắt người đã khuất, gọi là "khuất hải", có khi lại thấy người liệm chừa ra ngón chân cái, gọi là "khai sơn". Tên gọi các từ đó cũng dài ra theo từng cách liệm cụ thể mà cũng không mấy ai hiểu được ý nghĩa của chúng. Người ta khác nhau, cách quấn như vậy chính là một loại bùa chú tùy vào trường hợp khác nhau, bát tự khác nhau mà tiến hành. Tương truyền liệm thuật chính là một tuyệt học về huyền thuật của đất Đại Nam.
Lại nói, họ Phạm không những là người khâm liệm trực tiếp mà dần dà trở người tổ chức đám tang một cách cực kỳ quy củ. Chẳng những không bao giờ người nhà họ Phạm phạm phải những điều cấm kỵ trong nghề, mà còn có thể giúp cho tang chủ trong những lễ như phục hồn, phát tang, phúng viếng, tế vong, quay cữu, cúng cơm, cất đám, hạ huyệt, rước vong...
Dân gian vốn có câu "ma chê cưới trách" cũng một phần vì những điều cấm kỵ trong tang ma nhiều không kể xiết. Ví như nếu trẻ con dưới mười sáu tuổi chết đi, thì mẹ không được đưa tang, mà đám tang phải diễn ra vào chiều tối. Hoặc giả như những người chết ở ngoài nhà, như chết đuối, tai nạn, thì kiêng không được mang xác vào nhà mà làm đám ở nhà kho hay sân đình, rồi thì trùng tang, cưới chạy... Vì nhà họ Phạm làm nghề lâu đời nên những chuyện như vậy họ rất thông thạo, có thể giúp gia chủ tránh được trong lúc bối rối.
Có một lời đồn làm cho nhà họ Phạm nổi danh như cồn, ấy là phàm những ai được họ khâm liệm thì con cháu về sau đều tốt lành cả, nhiều thì làm ăn phát đạt, thăng quan phát tài, ít thì mùa màng bội thu, tiền bạc dư dả, cơm no gạo nhiều. Dân gian đều tin đây chính là nhờ vào liệm thuật của họ Phạm. Thế nên, ai ai cũng muốn được người họ Phạm ra tay mỗi khi có việc tang ma.
Nhà ấy trước sau ăn ở với làng xóm như bát nước đầy. Họ Phạm có tiền của cũng đem cúng cho làng rất nhiều, từ mua gạch lát đường, mời thầy mở lớp học chữ, đến cất đình, dựng điếm canh đê... Bất cứ việc gì làng cần đến tiền bạc, họ Phạm đều lo chu đáo cả. Lại thêm nhà ấy rất rộng rãi với bà con làng xóm, chuyện họ giúp người ta đóng thuế, cho vay không lấy lãi, hay đứng ra chôn cất người thân giúp những gia đình quá túng bấn chẳng có gì là lạ lẫm. Ai nhắc đến nhà họ Phạm cũng phải khen là rộng rãi, đức độ. Tiếng tốt về nhà họ Phạm vì thế ngày càng lan xa.
Có điều, cái nghề cận kề với cái chết của họ Phạm không khỏi làm người ta cảm thấy ghê sợ. Gia đình này lại có những điều kỳ dị mà ai cũng có thể thấy, đó là qua tám đời, đời nào dòng Phạm Đình cũng chỉ sinh con độc đinh. Chỉ một con trai, không hơn. Dù đàn ông nhà ấy đủ tiền cưới vài vợ lẽ, nhưng kết cục qua tám đời vẫn là một cha một con, không hề có ngoại lệ nào.
Phạm Đình Phong, ông tổ khai nghiệp, cơ thể vốn gầy gò, ốm yếu như thế, cho nên ngay cả khi lấy vợ cũng không thể sinh hạ được con cái. Thành ra mặc dù ngày càng khá giả nhưng gia đình vẫn không hạnh phúc, bởi ngẫm cho cùng thì tiền bạc có tích lũy nhiều đến mấy mà không có mụn con vui cửa vui nhà, và sau này không có người lo ma chay, thờ cúng thì cũng là không trọn vẹn.
Phạm Đình Phong từ lâu đã nhận một đứa bé trai về làm con nuôi, ở nhà gọi là thằng Đen. Ai cũng đinh ninh rằng, đến hết đời Phong gia sản sẽ truyền cho đứa nhỏ này. Nào ngờ, đến năm Phong năm mươi tuổi, người ta thấy trong nhà Phong có tiếng trẻ con khóc. Chẳng thấy vợ Phong mang bầu, vậy thì đứa trẻ này ở đâu ra?
Phong mở một bữa tiệc lớn, mời bà con họ hàng trong làng lại, tuyên bố nhận thêm một đứa bé trai con của một người ăn mày làm con nuôi, để sau này có thêm người thờ phụng, hương khói.
Bà con đều chúc mừng cho Phong, nói con nào mà chẳng là con. Nhưng ai cũng lấy làm hoài nghi. Phong đã nhận thằng Đẻn làm con nuôi, cần gì phải nhận thêm nữa? Vả lại, nếu nhận con nuôi thì nhận cho sớm, chứ ai lại để đến cái tuổi xế chiều này, vừa vất vả mà đứa trẻ cũng có thể trở nên côi cút khi nào không hay.
Điều quan trọng nhất là đứa bé giống Phong như đúc, từ đôi mắt, cái mũi đến cặp lông mày. Phải chăng Phong có con bên ngoài với người đàn bà khác? Nếu đúng vậy thì người làng cũng thông cảm bởi vợ chồng Phong hiếm muộn, song le, có người trong làng kể lại một chuyện dị thường khiến ai cũng giật mình thon thót.
Đó là trước khi Phong nhận đứa trẻ này, hắn có khâm liệm cho một cô gái chết đuối, cô gái này tuổi mới mười sáu. Buổi tối hôm ấy, người hàng xóm bên cạnh nhà Phong nghe có tiếng chó sủa rất dữ. Nghĩ là có trộm, gã bèn một tay cầm gậy, một tay mở cửa, ra ngoài xem xét.
Người hàng xóm nhìn quanh, thấy khoảnh sân vắng tanh không một bóng người, chỉ thấy chó nhà mình cứ chực hướng nhà Phong mà sủa. Chẳng riêng nhà gã mà chó các nhà xung quanh cũng lồng lộn sủa rất dữ.
Người hàng xóm thấy lạ liền hướng mắt nhìn sang sân nhà Phong. Hàng rào giữa hai nhà chỉ là hàng cây râm bụt cao chưa quá đầu người, bình thường nhìn sang có thể thấy rõ cổng nhà bên, nhưng hôm ấy mùng một, trời đất tối đen. Người hàng xóm xem xét một lúc rồi nghĩ thầm:
- Tối thế này, có thắp đèn cũng khó mà trông sang được nhà bên ấy. Thôi thì thân ai người nấy lo.
Gã đang định đóng cửa vào ngủ tiếp thì chợt thấy thấp thoáng trước cửa nhà Phong có một bóng người. Người này rõ ràng là một cô gái mặc áo trắng toát từ đầu đến chân. Kỳ lạ ở chỗ, người con gái này dường như tự phát sáng trong đêm, thứ ánh sáng lờ mờ như của đom đóm. Nhờ ánh sáng ấy, từ xa cũng có thể thấy được vẻ mặt vô hồn của thị. Mái tóc thị ướt sũng như người vừa gội đầu. Gã hàng xóm tái mặt, nhận ra mình có biết người con gái kia.
Đó chính là cô gái chết đuối!
Người hàng xóm sợ quá, đóng vội cửa lại, chui lên giường trùm chăn trốn kỹ. Trước khi cửa khép chặt, gã vẫn kịp nhìn thấy một bóng đen từ trong nhà đi ra. Sau đó, gã còn quả quyết rằng bóng đen kia không ai khác, chính là Phạm Đình Phong.
Tính từ khi người hàng xóm thấy cái bóng ấy, đến khi nhà Phong có đứa trẻ kia là chín tháng có lẻ. Bởi vậy nên trong làng đồn rằng Phong đã ăn nằm với hồn ma kia, rồi đến ngày đến tháng đứa trẻ ra đời thì hồn ma kia đem trả lại Phong.
Thế là tin đồn Phong lấy vợ ma lan ra khắp nơi, khiến cho mọi người dù vì nể vẫn lảng tránh nhà họ Phạm, đứa trẻ lớn lên cũng không bao giờ có bạn, vì ai nấy đều sợ hãi không cho con cái chơi với con của mẹ ma.
Trải qua nhiều đời, đời nào cũng vậy, người nhà họ Phạm cứ đến năm mươi tuổi mới sinh được con trai, mà đều đột ngột, không thấy con dâu nhà ấy mang thai bao giờ. Thành ra mọi người lại càng tin rằng những đứa con nhà họ Phạm là con của người với ma.
Bình Luận
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
0 Thảo luận