Cài đặt tùy chỉnh

Tùy chỉnh
Mục lục
Đánh dấu

Đại Nam Dị Truyện

Chương 3: Họ Trần trùng tang-Họ Phạm nghiệp tàn

Ngày cập nhật : 2026-01-17 01:52:14
M
ọi người đồn rằng, nhà họ Phạm chịu một lời nguyền. Lời nguyền này xuất phát từ việc họ Phạm giao phối với ma để tạo ra người nối dõi. Điều ấy là trái với đạo âm dương của trời đất. Bởi vậy cho nên họ Phạm phải chịu cái nợ kiếp kiếp làm nghề hầu ma.
Chẳng những thế, bất cứ ai nhờ họ Phạm giúp, người nhà ấy đều phải nhận lời, không thể từ chối.
Lại nói, cụ tổ Phạm Đình Phong khi sinh được đứa con nối dõi liền cho chặt hết hàng rào râm bụt, thay bằng cọc tre đóng xung quanh nhà. Kể chiều dày thì cọc ấy lớp trước lớp sau cách nhau một gang tay, tổng cộng có mấy chục lớp. Số cọc tre này chỉ cao ngang ngực người lớn, tạo thành hình chữ "khẩu"口 bao bọc ngôi nhà. Mỗi chiếc cọc đều được ngâm tẩm cẩn thận, trên đầu cọc lại trang trí hình thù rất quái gở bằng đất nung. Mỗi đầu cọc đều buộc một miếng vải sắc vàng. Mỗi lần gió thổi, miếng vải ấy lại phất phơ trước gió, khiến cho vẻ quái gở của hàng rào cọc này tăng thêm mấy lần.
Xuất xứ của cái hàng rào ấy kể ra cũng thực dài dòng. Nó bắt nguồn từ việc trong vùng đôi khi xuất hiện cùng một lúc rất nhiều xác vô thừa nhận. Xác ấy hoặc là do lũ cuốn về, hoặc là do thiên tai dịch bệnh, hoặc là do mất mùa nạn đói gây ra. Thông thường rất ít khi có tình trạng xác vô chủ, nhưng nếu đã xảy ra thì lại xuất hiện nhiều vào cùng một thời điểm. Những vong này thường chết tức tưởi cho nên có oán khí cao, nếu không được an táng cẩn thận thì rất dễ thành vong vất vưởng nơi dương gian.
Họ Phạm nói với làng nước rằng, đôi khi cần có chỗ trú tạm cho các vong linh vô thừa nhận ấy, cho nên mới phải dựng lên cái hàng rào kia. Mỗi cọc chính là một nơi trú ngụ cho vong, để chúng khỏi quấy nhiễu làng xóm.
Làng nước thấy hàng rào này thì lại càng tin rằng họ Phạm chịu lời nguyền phải khâm liệm cho bất cứ ai nhờ đến mình. Bằng chứng là nhà ấy đã kỳ công dụng cả chỗ trú tạm cho các vong chưa kịp khâm liệm. Nếu không phải lo sợ tai họa đổ lên đầu mình, thì việc gì phải làm chuyện như thế? Thêm nữa, trước sau nhà ấy cũng chưa bao giờ khước từ một đám ma nào. Thành ra, từ trẻ con đến người già, ai ai cũng chắc mẩm chuyện về lời nguyền kia là thật, ai ai cũng tin rằng đời đời kiếp kiếp họ Phạm phải làm cái "nghiệp hầu ma" ấy.
Thấm thoắt nhà họ Phạm đã trải được tám đời. Cho đến những năm Cảnh Hưng thì truyền đến Phạm Đình Sơn là đời thứ chín. Năm Phạm Đình Sơn sáu mươi hai tuổi, có tin đồn rằng lão không nhận khâm liệm đám ma nữa.
Chuyện bắt đầu khi Sơn khâm liệm cho một tay phú gia bậc nhất chốn kinh kỳ. Nghe đồn nhà ấy giàu có không kém gì chúa Trịnh. Sau đó độ một tuần trăng, người làng bỗng thấy ở đâu nườm nượp xe bò chở cơ man là hòm lớn rương to đến nhà họ Phạm. Cứ nhìn vào vết hằn bánh xe thì biết xe ấy nặng lắm, nếu không phải vàng bạc châu báu thì còn là gì nữa?
Người ta đồn rằng phú gia ấy sau khi được họ Phạm khâm liệm thì trúng được mối thầu muối rất lớn. Nghĩ rằng lộc ấy có được là nhờ họ Phạm khâm liệm, thành ra phú gia kia đãi đằng Phạm Đình Sơn rất hậu. Nhà họ Phạm vốn dĩ cũng là nhà khá giả, sau bận ấy lại càng giàu có hơn. Chuyện này ngẫm ra rất lại lên giống với cụ tổ nghề Phạm Đình Phong khi xưa, chỉ nhờ vào việc khâm liệm mà được lộc lớn.
Có điều, khác với cụ tổ nghề, Phạm Đình Sơn từ ấy suốt mấy tháng trời không nhận thêm đám nào nữa. Ngẫm ra trong một làng quê nhỏ bé thì đám ma cũng không nhiều, chỉ là họ Phạm vốn được trọng vọng, tin tưởng trong nghề hiếu, nên khắp các vùng xung quanh đều muốn nhờ tới. Thường thì họ Phạm không có lúc nào ngơi tay ngơi chân, hết xuống mạn nam lại lên mạn bắc. Cả một vùng rộng lớn đã quen với việc nhờ nhà ấy, bây giờ họ không làm nữa, người ta cũng không khỏi bối rối khi nhà có tang.
Ngặt một nỗi, trong mấy tháng Phạm Đình Sơn không khâm liệm lại toàn là những đám ma của nhà thường dân nghèo khó, hoặc là cô nhi quả phụ, hoặc là cùng đinh khố rách. Khi Phạm Đình Sơn từ chối, người ta thầm nghĩ họ Phạm vì có món lợi lớn cho nên những đám ma nhà nghèo không muốn động tới nữa.
Mặc cho ai nói gì, Phạm Đình Sơn nhất quyết không nhận làm khâm liệm nữa. Ngày ngày lão chỉ quanh quẩn trong nhà với thú nuôi gà chọi, cuộc sống rất ung dung nhàn nhã.
Ấy thế mà sau đó một tháng, nhiều người trong làng khác nhau rằng họ thấy Sơn mới tảng sáng giờ dần đã mang theo đồ nghề, một mình một ngựa rời khỏi làng. Từ ấy, lão vắng mặt luôn hai tháng mới trở về.
Sơn về được vài hôm, lại thấy một đoàn ngựa xe chở lễ vật hậu hĩ tới nhà Sơn. Trong làng vốn ít có biến động, nay lại có chuyện náo nhiệt như thế, cả làng liền đổ ra xem, đông vui như hội.
Xe ngựa đến tận cổng nhà Sơn, một tên bảo tiêu nhảy xuống ngựa, đĩnh đạc hô lớn:
- Gia tộc Âu Dương đất Quảng Tây kính lễ!
Nói đoạn, gã khom lưng hành lễ. Khẩu âm người này lơ lớ, mới nghe qua đã biết là không phải người Việt. Lại thêm họ Âu Dương là họ kép của người Tàu, người Việt không có ai mang họ này.
Người làng nghe thấy thế thì không ai không chau mày, thầm rủa lão Phạm Đình Sơn này chắc chắn là tham vàng bạc, chỉ chăm chăm làm giàu, không thèm đếm xỉa đến những nhà nghèo khó nữa.
Người Việt trước đây chịu ách đô hộ hơn nghìn năm của người phương Bắc nên vốn không ưa gì họ. Dưới thời Cảnh Hưng, người gốc Hoa ngụ tại Đại Việt rất đông, là do vào thời kỳ nhà Thanh diệt nhà Minh, một số lượng lớn Hoa kiều từ Trung Quốc chạy về phương Nam. Khi ấy nơi tập trung của người gốc Hoa ở Đàng Ngoài nhiều nhất là Kẻ Chợ và phố Hiến. Người Hoa vốn là dân ngụ cư, đất đai không có nhưng thạo việc buôn bán cho nên đa phần người Hoa là các thương nhân. Xét cho cùng, sự có mặt của họ cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ thương nghiệp. Nhưng con buôn vốn là hạng bị coi rẻ, xếp cuối cùng trong bộ tứ "sĩ, nông, công, thương". Vì thế trong tư tưởng, người bản địa vẫn có ý đề phòng tộc người đã áp bức họ, lại là loại con buôn hạ đẳng.
Lại nói khi ấy, Phạm Đình Sơn ra mở cổng, lão nhìn chằm chằm vào tên bảo tiêu, mặt lộ vẻ tức giận, mắt long lên, quát lớn:
- Về đi, ta không biết ngươi.
Nói đoạn, lão vào nhà, khóa cổng. Người làng thấy lão xử sự như thế, trong lòng bán tín bán nghi.
Rõ ràng là Phạm Đình Sơn vừa đi vắng hai tháng trời, sau đó lại có lễ vật của họ Âu Dương đất Quảng Tây dâng đến tận cửa. Chẳng phải đã quá rõ Sơn đi xa một chuyến là để khâm liệm cho người Tàu hay sao?
Trong lúc đám đông đang im phăng phắc chờ xem diễn biến thì chợt có tiếng nói:
- Hừ, giả vờ giả vịt.
Tiếng nói vừa cất lên, như gãi trúng chỗ ngứa, trong đám đông lập tức có mấy người hùa theo:
- Đồ ham tiền.
- Hám lợi thế thì chẳng ra gì đâu.
Dần dần, những tiếng nhiếc móc biến thành chửi bới:
- Tiên sư quân thất đức!
- Đ... m... đồ bất nhân! Tham vàng bỏ ngãi thì đời mạt.
Cơn phẫn nộ lan ra rất nhanh. Tiếng chửi càng lúc càng tục tĩu, nặng nề. Nhiều kẻ còn ném đá vào cổng nhà Sơn. Chửi chán, mọi người bỏ ra về, ai cũng lắc đầu thất vọng cho một dòng họ có tiếng phúc đức, đến đời này lại sinh ra một đứa con tham lam như thế.
Sau bận họ Âu Dương dâng lễ tới nhà họ Phạm, một con lũ lớn tràn qua làng. Đê vùng này vốn từ trước tới nay không kiên cố, cho nên cứ lâu lâu lại vỡ đê một lần. Làng vốn có địa thế thoai thoải, cuối làng là nơi thấp nhất, bị chặn bởi một con sông lớn. Dân chúng cũng quen với con đê yếu, cho nên hằng ngày đều treo đồ đạc quý giá trên cao, khi lũ tới thì chạy lên đầu làng nhờ nhà người quen, lũ rút lại trở về.
Thường thì những ngày sau lũ mới là những ngày kinh hoàng. Xác chết từ thượng nguồn bị lũ cuốn xuống rải rác khắp nơi. Việc an táng những ngày ấy phải rất khẩn trương để tránh bệnh dịch.
Bấy giờ nhà họ Phạm vốn rộng rãi khang trang lại ngụ ở chỗ đất cao, nhưng không hiểu sao Sơn không cho bất cứ ai ở nhờ trong mấy ngày lũ. Lại thêm, lão cũng không chịu an táng nạn dân chết vì lụt như xưa nay vẫn làm. Dân làng cũng vì thế mà càng ghét họ Phạm hơn.
Một thời gian sau, thôn Thượng xuất hiện những chuyện lạ. Đầu tiên là mỗi khi đêm tối, dân làng không sao ngủ được bởi tiếng chó sủa râm ran khắp nơi.
Ban đầu, nhà nào nhà nấy đều dậy suỵt chó. Nhưng dọa hay đánh thế nào lũ chó vẫn cứ ăng ẳng suốt cả đêm không dứt. Những tiếng của ngày càng dữ dội, điên dại hơn, dân làng không biết phải làm thế nào, đành chịu cảnh ấy suốt nửa tháng trời.
Làng đang hoang mang chưa biết nguyên nhân vì sao thì xảy ra chuyện với anh mõ. Nguyên là hôm ấy anh mõ làng đi ăn cưới, lỡ quá chén nên anh chàng chui vào vườn gia chủ mà đánh một giấc đến tận đêm mới tỉnh dậy.
Vợ anh mõ vốn có tính hay ghen, đi đâu về muộn là y như rằng đêm đó anh mõ lại phải nghe tiếng bấc tiếng chì. Cho nên khi thấy trên đầu trăng sáng vằng vặc, mõ ta hãi quá vội vàng về nhà ngay.
Anh đoán chừng vợ mình ở nhà đang nổi cơn tam bành, nên càng rảo bước thật mau. Đi được một quãng, anh chợt nghe thấy tiếng khóc. Ban đầu, anh mõ không chú ý. Khi nhận ra tiếng ấy, lại nghe chó sủa khắp nơi, trong lòng anh mới có chút hoang mang. Anh mõ quay đầu nhìn lại, thấy sương mù dày đặc, thấp thoáng bóng mấy bụi tre đung đưa trong gió.
Chợt một cơn gió lạnh buốt thổi tới. Anh mõ vừa quay đầu định chạy thì nghe có tiếng gọi:
- Anh... mõ... ơi...
Tiếng gọi ấy tuy rất khẽ nhưng lại rõ mồn một. Anh mõ thấy sống lưng lạnh toát, mồ hôi đầm đìa. Anh biết chỉ cần đáp lại thì sẽ chẳng có kết cục gì hay ho. Người ta thường nói khi đi trong đêm, nếu có ai gọi mình từ phía sau thì nhất định không được trả lời, nếu không hồn vía sẽ lập tức bị trục ra khỏi thân xác, ma quỷ cũng nhờ đó mà nhập vào cơ thể.
Giọng kia vẫn không ngừng rên rỉ:
- Anh... mõ... ơi...
Anh mõ thấy giọng nói lần này dường như gần hơn, giống như thứ kia đang tiến về phía mình. Hoảng quá, anh cắm đầu cắm cổ chạy một mạch.
- Anh... mõ... ơi...
Giọng nói lần này gần lắm rồi, tưởng như chỉ cần quơ tay về phía sau là chạm tới được người kia.
May mắn thay, khi ấy anh mõ đã chạy về tới gần nhà, đang vắt chân lên cổ phóng qua cổng thì bỗng có một bàn tay vỗ mạnh lên vai anh mõ. Anh mõ sợ quá hét lên một tiếng:
- Á.........
Trong cơn hoảng sợ, anh mõ đưa tay, xô người kia ngã dúi dụi. Phải mất một lúc định thần, nhìn kỹ lại, anh mõ mới nhận ra người kia chính là em trai cô dâu. Thằng bé khẳng khiu vừa bị anh xô ngã bệt trên mặt đất. Thức ăn vương vãi xung quanh nó. Thì ra khi tàn đám cỗ, không thấy anh mõ lấy phần về, gia chủ bèn sai con mang sang cho anh. Thằng bé thấy anh mõ đang đi phía trước nên đuổi theo, nào ngờ anh mõ lại sợ ma bỏ chạy cuống cuồng.
Thằng bé nói:
- Cha sai cháu đưa phần cho chú.
Giọng thằng bé thì thào khản đặc. Thì ra mấy hôm nay nó bị viêm họng, nói không rõ tiếng. Vậy nên ban nãy anh mới nghe thành tiếng thì thào ma quái. Mõ ta biết mình thần hồn nát thần tính lo sợ linh tinh, liền thở phào, đỡ thằng bé dậy. Anh vừa cảm ơn vừa xin lỗi thằng bé rồi thu dọn thức ăn rơi trên đất.
Anh mõ qua cơn hoảng sợ, cứ đần người ra. Thằng bé ra về được một lúc rồi mà anh còn đứng đó. Lúc ấy vợ anh chạy ra, thị thấy anh đang đứng thẫn thờ bèn hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Anh mõ xấu hổ đáp:
- Không có gì, không có gì, người ta mang phần cỗ sang cho nhà mình đây. Tôi say quá ngủ quên mất.
Vợ anh mẽ nói khẽ:
- Khuya lắm rồi, đi ngủ thôi.
Anh mõ theo sau vợ. Thị vừa bước vào nhà vừa xõa mái tóc đang búi theo lệ thường trước khi đi ngủ. Mùi hoa bưởi lẫn với hương bồ kết từ tóc thị phảng phất nơi cánh mũi anh mõ. Sẵn men rượu vẫn còn trong người, lại bị mùi hương này kích động, sóng dục trong lòng anh mõ dâng cuồn cuộn. Anh bất giác ôm chầm lấy vợ, đoạn bế xốc thị lên. Thị thẹn quá đưa tay đấm anh mấy cái rồi ngượng ngùng:
- Khẽ thôi không con nó dậy.
Anh mõ nghe thấy thế thì tụt hứng tức thì. Nguyên là nhà anh bé con con mà vợ anh lại mắn đẻ, cứ ba năm hai đứa, thoắt cái đã có sáu đứa lăn lóc trong nhà. Con đông mà nhà lại chật, cho nên hai vợ chồng gần gũi cũng nhiều chỗ bất tiện.
Bỗng anh mõ chợt nhớ ra, hôm nay bọn trẻ về nhà ngoại ở làng bên, không có nhà. Như thế là hai vợ chồng anh tha hồ thoải mái. Nghĩ đến đây, men rượu trong người anh mõ lại thúc đẩy sóng dục tuôn trào. Anh mõ cúi đầu hôn vợ một cái.
Khi ấy cửa sổ vẫn mở, ánh trăng rằm soi rõ bóng anh mõ trải dài trên nền đất. Nhưng chỉ có bóng của một mình anh, không hề có bóng của người vợ anh đang bế trên tay. Anh mõ kinh hoàng nhìn bóng mình dưới đất rồi giật mình nhìn sang vợ.
Không có ai cả, trên tay anh chỉ có một cục thịt đỏ hon hỏn còn đẫm máu.
Sáng hôm sau người ta thấy anh mõ chết cứng, mặt mày xám ngắt, tay vẫn cầm cái gì đó trông như một cục thịt thối rữa. Vợ anh mõ sang ngoại với lũ trẻ, nghe tin chồng chết mới sấp ngửa chạy về.
Chuyện của anh mõ làng chỉ là một trong số rất nhiều chuyện ma xuất hiện trong vùng ấy. Ví như còn có chuyện anh cu Bột đi tiểu đêm bị ma giấu, lại có chị Lụa nhìn thấy bóng trắng phất phơ trên cây gạo, hoặc ông Tâm cứ đêm đêm nghe tiếng trẻ con khóc trên mái nhà. Bấy giờ khắp làng đều rộn lên những chuyện ma hiện. Trong số những người gặp ma, mười người thì có đến bảy tám không giữ được mạng.
Những chuyện ma như thế vốn dĩ được lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian. Đó không phải là lần đầu tiên người ta được nghe chuyện về bóng trắng đu đưa trên ngọn cây, cái đầu nhũn như đất sét của người con gái đẹp, hay những đôi tay lôi kéo người xuống nước, nhưng điều đáng nói là những chuyện ấy lại tập trung vào thời điểm lũ vừa tràn qua làng. Người ta kháo nhau rằng họ Phạm bây giờ không nhận khâm liệm nữa, cho nên vong hồn người chết cứ quanh quẩn bên cọc tre ngoài nhà chờ tới lượt. Số vong này càng ngày càng nhiều mà cọc tre lại không tăng lên, dần dần không còn chỗ náu mình cho các vong linh nữa. Thành ra các vong ấy cứ đêm đến lại lang thang ngoài đường, gặp ai liền ám lấy người đó. Lại trùng hợp với cái sự chó không ngừng sủa về đêm, khiến câu chuyện hoang đường ấy càng đáng tin hơn.
Trong số những người chết vì ma ám có một người tên là Trần Lâm, vợ gã là Thị Mướp. Người ta đồn Trần Lâm chết đuối là do ma nước níu chân.
Trần Lâm vốn là trưởng họ Trần. Gã có ba đứa con trai nối dõi tên là Trần Thừa, Trần Túc và Trần Tâm. Trần Thừa năm nay mười chín, Trần Túc mười bảy và Trần Tâm lên hai. Thân thiết nhất với nhà họ Phạm chính là nhà họ Trần này. Họ Trần làng ấy vốn chẳng phải ai xa lạ, chính là con cháu cụ Trần Đan Tốn năm xưa giúp cho việc khởi nghiệp của cụ Phạm Đình Phong.
Cụ Tốn về sau thăng quan phát tài lên đến hàm tam phẩm, kiêm chức coi kho lương trong triều đình, tiền bạc nhiều không kể xiết. Hậu duệ của cụ không có anh tài xuất sắc, lại trải qua bao biến động của lịch sử cho nên không còn ai làm quan, nhưng nhà ấy vẫn bảo toàn được gia sản của cha ông, tuy chỉ ở nơi thôn dã nhưng vẫn là có tài lực vững mạnh.
Sau khi Trần Lâm chết đi, Thị Mướp nhờ Phạm Đình Sơn khâm liệm chồng nhưng Sơn một mực từ chối. Trong suốt tám thế hệ, việc ma chay của họ Trần đều được tin tưởng giao phó cho họ Phạm, mối thân tình năm xưa cũng nhờ thế mà càng ngày càng được củng cố vững chắc hơn. Ai cũng nghĩ họ Phạm không khâm liệm cho ai chứ không thể không làm giúp họ Trần. Thế mà Phạm Đình Sơn vẫn từ chối. Chuyện này khiến Sơn càng bị chê trách là ăn ở không có đạo nghĩa.
Cuối cùng, họ Trần đành phải nhờ một ông chú họ xa làm việc ấy. Đám hiếu xong xuôi, Thị Mướp nhờ thầy cúng gọi hồn chồng. Hồn Trần Lâm nhập về chỉ lẩm nhẩm một từ:
- Trùng tang. Trùng tang...
Thị Mướp vừa mếu máo vừa hỏi lại:
- Mình nói sao cơ?
Vong lại đáp:
- Trùng tang. Trùng tang...
Người lên đồng chỉ nói đến đó rồi lăn ra giãy đành đạch, lịm dần đi. Sau đó có gọi thế nào hồn Trần Lâm cũng không về được nữa. Khi hỏi ông thầy cúng, ông này tính lại mới hay, Trần Lâm vốn tuổi tuất, mất phạm vào ngày hội là ngày kiếp sát, theo quan niệm dân gian sẽ có trùng tang.
Họ Trần thấy thế thì lo lại càng thêm lo, bàn nhau gửi vong Trần Lâm lên một ngôi chùa trên núi gần đất ấy. Sư trụ trì vừa hỏi đến ngày sinh tháng để cùng giờ mất của vong thì lập tức lắc đầu, nói ngay:
- Vong này sinh vào ngày giờ ấy mà chết thì đúng là đại kiếp sát, trùng tang này mạnh quá, e là nhà chùa không giữ được vong. May mà có họ Phạm khâm liệm, không thì...
Chùa này vốn ở trên núi cao, tuy có tiếng là linh thiêng nhưng đường lên núi cheo leo, chiều rộng chỉ đủ một người đi, lại gập ghềnh khúc khuỷu, ngoài dịp lễ tết cũng ít có người lui tới. Vậy nên sư cụ không biết việc họ Phạm đã không còn làm việc khâm liệm nữa. Người nhà đi theo nghe sư cụ nói thế, ai cũng toát mồ hôi hột hỏi lại:
- Không thì sao hả cụ?
Sư cụ chậm rãi đáp:
- Xin thí chủ tha lỗi cho tôi nói điều gở, không thì nhà ta rơi vào đúng nạn "cửu nhật trùng tang, tứ mạng liên hoàn". Nghĩa là trong vòng chín ngày trong nhà sẽ có trùng tang, chết hết bốn mạng nam đinh nhà ấy mới dứt. May mà nhà họ Phạm có phép tránh trùng tang gọi là "hỉ tang chú". Hễ ai nhờ được họ khâm liệm, trong lúc hạ huyệt họ đọc chú này thì người nhà sẽ được bình an vô sự.
Thị Mướp nghe đến đây thì kinh hoàng, ngất ngay tại chỗ. Sư cụ thấy Thị Mướp như thế, lại thấy gia quyến lộ vẻ hoảng loạn, mới lờ mờ đoán được là họ Trần không được họ Phạm khâm liệm. Lúc đó Trần Thừa, con cả của Trần Lâm và Thị Mướp, một mặt nhờ người đưa mẹ ra ngoài, mặt khác lại hỏi sư trụ trì:
- Có cách nào không thưa sư cụ?
Sư nói:
- May ra có chùa Hàm Long trấn Kinh Bắc giữ được vong này.
Chùa Hàm Long được xây từ thời nhà Lý, vốn là nơi tu hành của cao tăng Dương Không Lộ. Đến thời Lê, có hòa thượng Trịnh Thập, pháp danh Như Trùng Lân Giác đến tu, ở đây, ông đã viết bộ kinh Thập nguyện cứu sinh để tụng trì giúp các vong hồn siêu linh. Từ đó Hàm Long trở thành ngôi chùa "nhốt trùng" nổi tiếng. Thường thường, nhà nào sợ trùng tang thì đem vong người nhà lên gửi trên ấy để tránh nạn.
Trần Thừa liền đáp:
- Vậy chúng con xin gửi vong lên chùa Hàm Long.
Nói rồi vội vàng với tạ ra về ngay. Trần Thừa chỉ cử mấy người ở lại chăm nom Thị Mướp vì đường xuống núi rất khó đi. Trời lúc đó lại bất chợt đổ cơn mưa lớn nên không thể cáng Thị Mướp xuống cùng.
Từ Sơn Tây đến trấn Kinh Bắc, đi nhanh cũng mất mấy ngày đường, việc thì đang gấp lắm, cho nên ai cũng hoang mang sốt ruột.
Trần Thừa vốn là một thanh niên lực lưỡng, cao lớn, sức vóc hơn người. Trần Thừa vừa là con trưởng, vừa là tân trưởng họ, theo lệ, mọi việc trong họ từ ấy về sau nhất nhất đều do gã sắp đặt.
Khi ấy là giờ dậu, trời đã tối lại mưa như trút nước. Trần Thừa nói với mấy người trong họ:
- Việc của cha cháu gấp như thế, mẹ cháu trong lúc này bối rối có lẽ không lo được mọi việc. Bây giờ cháu và thằng Túc cùng mấy anh em nữa sẽ lên đường ngay đêm nay. Có lẽ cần độ mười người là đủ. Cháu nhờ nhánh chú Lân trông nom những việc ở nhà. Nếu có chuyện cần tiền xin chú giúp cho, khi về cháu xin gửi lại.
- Chú Phàn và chú Lộc xem giúp cháu xem trong họ có anh em nào có thể đi cùng. Các chú nói anh em chuẩn bị mấy bộ quần áo, không cần mang theo đồ ăn. Ngựa nhà cháu đã có sẵn.
- Nhà ta có bụi, sợ quán xá không chứa, vậy nên phải mang cơm đi đường. Cháu nhờ thím Tịnh, thím Xoan cùng với vợ cháu soạn giúp thức ăn trong mấy ngày cho anh em.
- Cô Tầm quen với thầy cúng Làn bên thôn Hạ, nhờ cô sang mời thầy về làm lễ giúp cho mẹ cháu an tâm. Bây giờ là giờ dậu, đến giờ hơi chúng cháu sẽ đi ngay.
Mọi người thấy Trần Thừa còn trẻ tuổi mà phân công rành rọt, tỉ mỉ, chu đáo thì mừng lắm, lấy làm yên tâm vì có trưởng họ mới tháo vát.
Đang nghĩ đến đấy, bỗng mọi người thấy trời đất sáng lòa, một tia sét chạy ngoằn ngoèo rạch ngang bầu trời. Tiếp đến là một tiếng nổ đinh tai nhức óc khiến mấy người yếu bóng vía nhất giật thót mình. Khi mọi người định thần lại thì chợt nhận ra Trần Thừa đã biến mất tự lúc nào!
Cả đoàn người nháo nhác cất tiếng gọi Trần Thừa nhưng không có ai đáp lại. Rõ ràng là gã mới ở trước mặt mọi người, chớp mắt một cái đã không thấy đâu. Cả bọn lo Trần Thừa sảy chân rơi xuống núi bèn vội vã xuống tìm phía dưới, lại cho người về làng gọi thêm người tới giúp.
Đúng là Trần Thừa ngã xuống núi thật. Tảng sáng hôm sau, người ta mới tìm thấy thi thể gã bê bết máu trên một tảng đá lớn. Trần Thừa đã chết từ khi nào.
Em Trần Thừa là Trần Túc thấy anh chỉ còn là một cái xác không hồn thì không cầm được òa lên khóc não nề mãi không thôi. Độ hơn một tuần hương, người ta thấy gã đuối dần. Giờ không nghe gã khóc nữa, chỉ còn nấc lên từng hồi. Ai chứng kiến cảnh này cũng cảm thấy thê lương.
Người nhà thấy vậy đành tìm lời an ủi gã rồi dìu Trần Túc đứng dậy. Nào ngờ hai người họ hàng vừa xốc gã lên, đã thấy đầu Trần Túc gục xuống, mặt mũi tái ngắt, cả cơ thể rũ ra như tàu lá chuối.
Trần Túc đã tắt thở.
Chỉ qua mấy ngày, nhà Trần Lâm đã chết đến ba mạng. Nếu đúng như sư thầy nói, thì còn một mạng thứ tư của Trần Tâm nữa mới dứt nạn trùng tang này. Thị Mướp trong mấy ngày mất luôn ba người thân, lại lo lắng cho đứa con út, thành ra như điên như dại.
Khi ấy có người mách cho thị một ông thầy bói tên Hậu. Người này Thị Mướp cũng biết vì gã vốn nổi danh khắp cả vùng. Nghe nói thầy Hậu tu đạo bên Tàu mấy năm, pháp lực cao thâm khó lường. Duy có một điều là gã dùng phép vừa cổ quái, vừa tàn độc, lại lấy giá cắt cổ, cho nên mọi người sợ nhiều hơn phục, chỉ khi nào vạn bất đắc dĩ họ mới phải nhờ đến.
Thị Mướp khi ấy như người sắp chết đuối, tóm được gì liền bám chặt không buông. Thấy người ta mách, thị liền tìm tới thầy Hậu.
Thầy Hậu vừa sai người nhà pha trà vừa mời Thị Mướp ngồi. Thị Mướp đang sốt ruột lo lắng chuyện con mình, chưa đợi nước pha xong đã toan đem chuyện ra thuật lại. Nào ngờ thầy Hậu nói ngay:
- Cứ xem tử khí trên người ngươi còn vương nhiều như thế này, hẳn là trong nhà đang có trùng tang. Mà ta xem ra trùng tang này vẫn vượng lắm, cho nên ít thì còn nợ một mạng, nhiều thì thiếu ba bốn mạng.
Thị Mướp nghe đến đây thì sợ hãi khóc lóc nói:
- Thưa thầy, quả là nhà con đang trong cơn nguy nan quá, mong thầy giúp cho, chúng con xin muôn vàn đội ơn.
Thầy Hậu khẽ gằn giọng:
- Việc trùng tang thường thì phải giải ngay trong đám tang đầu tiên, càng để lâu, càng khó giải. Người đưa ta ngày giờ sinh và mất của người chết đầu tiên xem sao.
Thị Mướp vốn đã chuẩn bị sẵn, bèn đưa ngày sinh tháng đẻ cùng ngày giờ mất của Trần Lâm cho thầy Hậu. Thầy vừa nhìn, mặt đã tối sầm, khẽ nói:
- Chết vừa khéo, thời khắc cực độc này mấy chục năm mới có một lần, thế mà...
Thầy Hậu lắc đầu ngao ngán rồi lại tiếp:
- Trùng tang này kéo theo cả ba người con trai của vong nữa mới thôi.
Thị Mướp và mấy người trong nhà tái mặt nhìn nhau. Lời gã nói quả trùng khớp với sư thầy trên chùa. Thầy Hậu bỗng đuổi hết người nhà Thị Mướp ra, nói riêng với thị:
- Ngươi chắc biết tiếng ta, ta vốn thường dùng phép "dĩ độc trị độc", lấy mạng đổi mạng. Trường hợp này cũng thế. Muốn giữ mạng của nam nhân còn lại thì ắt phải có một người chết thay.
Thị Mướp nghe đến đây thì dập đầu khóc lớn:
- Con xin đổi mạng cho cháu, con xin đổi mạng cho cháu.
Thầy Hậu chờ Thị Mướp qua cơn xúc động, mới nói rành rọt từng từ:
- Đâu phải muốn ai thế mạng cũng được. Người thế mạng trước hết phải cùng là nam giới, thứ hai nữa phải hợp tuổi với người được thế mạng. Nếu ngươi không muốn để người khác chết thay con mình thì ta cũng không dám ép uổng. Người có thể đi tìm thấy khác. Nếu cậy đến ta thì pháp lực của ta chỉ có thể làm đến thế, không có cách nào khác. Việc này là tùy ngươi quyết định, phải suy nghĩ cho kỹ. Sau này nếu có quả báo thì không phải là ta chịu.
Thị Mướp ngẩn người một lúc, chưa biết nên làm thế nào, thị vừa thấy cắn rứt lương tâm vừa lo lắng cho tính mạng con mình. Thầy Hậu dường như đã quen với việc ngồi nhìn người ta suy tính xem có nên hại người khác để bảo vệ bản thân hay không, nên thản nhiên rót trà, nhâm nhi từng ngụm, rất là thư thái. Cuối cùng Thị Mướp gạt lệ nói:
- Nhà con chỉ còn một mình cháu nó. Con xin làm theo lời thầy. Chỉ mong tội vạ đâu cứ đổ lên đầu con, cháu nó mới lên hai, không có tội tình gì...
Thầy Hậu đoan chắc Thị Mướp sẽ đồng ý. Xưa nay gã đã gặp nhiều trường hợp thân nhân đắn đo thế này, trong mười người thì cả mười đều đồng ý để người khác chết thay cho người nhà mình, chưa từng thấy ngoại lệ. Gã thản nhiên nói:
- Ngươi không đưa ta ngày sinh tháng đẻ của đứa trẻ thì ta biết làm sao mà xem?
Thị Mướp vội vàng nói ra bát tự của Trần Tâm. Thầy Hậu bấm đốt tay một hồi, chau mày nói:
- Người thế mạng phải là nam nhân đã qua tuổi năm ba, tuổi thân, hoặc tý, hoặc thìn, nhà ở hướng tây nam, cách nhà ta không quá một dặm, nếu xa quá thì không linh.
Thị Mướp chưa nghĩ ra là ai, bèn xin thầy Hậu ra ngoài hỏi lại người trong nhà. Mấy người ngẫm nghĩ hồi lâu mới ra.
Người như thế, chỉ có Phạm Đình Sơn.
Thị Mướp nghe đến Phạm Đình Sơn, trong lòng lại thấy phẫn nộ, cho rằng việc chồng mình chết là do nhà ấy không chịu khâm liệm nên ma quỷ mới hoành hành khắp làng. Lại thêm việc Sơn không giúp nhập liệm, mọi chuyện trước sau đều do Sơn mà ra cả.
Phút chốc, lòng oán hận của Thị Mướp với Phạm Đình Sơn trào lên, cảm giác tội lỗi biến mất, chỉ còn khát khao giữ lấy mạng con và báo thù cho người nhà. Thị liền hỏi lại thầy Hậu cụ thể xem phải làm gì kế tiếp. Thầy Hậu phán:
- Quỷ dưới âm ty thường dựa vào số sinh của Nam Tào, sổ tử của Bắc Đẩu mà lấy mạng người ta. Khi xưa Quản Lộ xúi người ta sửa sổ Nam Tào mà thêm được thọ. Ta thì không làm được như thế nhưng có thể lừa quỷ âm ty để bắt người thế mạng thay vì con ngươi. Chỉ có điều, từ rày về sau, con ngươi phải lấy ngày sinh tháng đẻ của người thế mạng cho nó làm bát tự.
Nói rồi thầy Hậu lấy ra một lá bùa, nói Thị Mướp đem giấu trong mình Trần Tâm. Gã nói lá bùa ấy chính là để quỷ không thấy được đứa bé. Gã dặn nhất nhất không được để thằng bé cất tiếng, nếu để nó nói thành lời hay khóc thành tiếng, quỷ sẽ nghe thấy mà tìm ra nơi nó ẩn náu.
Thầy Hậu lại sai Thị Mướp mang hai cỗ quan tài của Trần Thừa, Trần Túc đem đặt trước cổng nhà Phạm Đình Sơn, lại dặn cả họ phải tới đó mà khóc lóc cho thật thảm thiết. Đến đầu giờ tý thì phải về hết, không chừa lại một ai. Một khi quỷ không tìm được Trần Tâm, sẽ theo tiếng khóc mà tưởng rằng Phạm Đình Sơn là người cần tìm.
Thị Mướp biết việc xấu sẽ xảy ra trong ngày một ngày hai, không dám chần chừ, vội vã làm ngay. Trước khi đưa quan tài sang nhà họ Phạm, Thị Mướp dặn vú em phải giữ kỹ thằng nhỏ Tâm, bịt miệng không cho nó lên tiếng. Cẩn thận hơn, thị dặn vú em bế thằng nhỏ núp dưới bàn thờ, những mong có gì thì gia tiên ngự trên sẽ che chở cho. Xong xuôi đâu đấy, thị mới sai người nhà khiêng quan tài sang nhà Phạm Đình Sơn.
Đến sẩm tối hôm ấy, người làng thấy trước cửa nhà Phạm Đình Sơn ầmĩ tiếng kèn trống đám ma, tiếng khóc gọi con, tiếng chửi bới nhà họ Phạm thậm tệ. Mọi người kéo ra xem rất đông, thấy ngay chính giữa cổng nhà họ Phạm đặt hai cỗ quan tài, nhà họ Trần thì cả họ lũ lượt kéo ra khóc lóc kêu gào rất thảm thiết.
Phạm Đình Sơn ở trong nhà thấy thế, sợ có chuyện không hay, rủi mà người họ Trần trong cơn kích động kéo vào đập phá nhà cửa hay giết người cũng nên. Nghĩ vậy, lão lập tức cho vợ con theo cửa sau về nhà ngoại. Xong xuôi đâu đấy, Sơn xốc lại quần áo, bước ra khỏi cổng, tới bên quan tài. Lão chưa kịp nói gì, mấy chục người nhà họ Trần đã hè nhau xông vào đánh lão một trận thừa sống thiếu chết.
Thì ra Thị Mướp đã được thầy Hậu dặn từ trước, nếu giữ được Phạm Đình Sơn gần bên quan tài là tốt nhất, như thế thì quỷ càng dễ bị mắc lừa. Mà đánh Sơn thì phải đánh bên ngoài nhà lão, đánh ở trong nhà có quan thần linh và gia tiên bảo hộ, sẽ không thế mạng được cho Tâm. Vậy nên Thị Mướp dặn trước người nhà, hễ Sơn ra khỏi cổng thì xông vào đánh lão ngất xỉu.
Phạm Đình Sơn ngất đi không biết bao lâu mới tỉnh dậy, thấy trời tối đen như mực, xung quanh không một bóng người. Bên cạnh lão chỉ có hai cỗ quan tài, bài vị vẫn đặt trên bàn thờ. Mấy ngọn nến trên quan tài đã tắt từ bao giờ. Bấy giờ trời lất phất mưa khiến cảnh vật càng thêm hiu hắt. Phạm Đình Sơn nằm lâu ngoài trời, lại vừa ăn một trận đòn, mình mẩy đau nhức không sao cựa quậy được. Lão đoán mình đã bị đánh gãy hai chân, chỉ có thể cố lật mình nằm ngửa, thở dốc từng hồi.
Lạo xạo, lạo xạo...
Phạm Đình Sơn bỗng nghe thấy một tiếng động rất khẽ. Mắt lão bấy giờ đã dần quen với bóng tối, tai cũng đỡ ù sau trận đòn, có thể lờ mờ nhìn thấy cảnh vật và nghe được những âm thanh xung quanh.
Có tiếng lạo xạo. Tiếng động này không phải tiếng gió thổi lá cây, cũng không phải tiếng cá quẫy dưới ao, lại càng không phải là tiếng bước chân người.
Lạo xạo, lạo xạo...
Âm thanh này, giống như tiếng người ta dùng móng tay cạo vào gỗ.
Lạo xạo, lạo xạo...
Đây không phải chỉ là một tiếng động. Đây là hai thứ âm thanh phát ra từ hai nơi khác nhau song lại giống hệt và quện vào nhau. Hai thứ âm thanh này vang lên trong đêm khuya tĩnh lặng càng rõ mồn một.
Lạo xạo, lạo xạo...
Phạm Đình Sơn cảm thấy rất rõ thứ âm thanh này phát ra từ hai cỗ quan tài. Âm vang như thế, hẳn là... Tiếng động phát ra từ phía trong quan tài!
Bỗng nghe bộp một tiếng. Phạm Đình Sơn đưa mắt nhìn về phía tiếng động. Trên nền đất, có một cái đinh. Cái đinh rơi ngay bên cạnh quan tài Trần Thừa.
Bộp.
Lần này là một cái đinh nữa, rơi bên cạnh quan tài Trần Túc.
Bộp. Bộp. Bộp.
Liên tiếp mấy cái đinh rơi. Phạm Đình Sơn nhận ra đây chính là thứ đinh dùng để đóng quan tài.
Bộp. Bộp.
Bộp.
Liên tiếp các âm thanh do đinh rơi tạo ra, qua khoảng thời gian uống cạn tuần tra thì không còn nghe thấy nữa. Ngay cả tiếng lạo xạo cũng không còn. Không gian im ắng đến nghẹt thở. Phạm Đình Sơn định gắng gượng ngồi dậy thì lại nghe một tiếng động khác.
Két...
Tiếng động lần này nghe chói tai hơn, tựa như âm thanh của một vật nặng được người ta đẩy trượt trên nền gạch.
Két...
Phạm Đình Sơn thấy rõ, nắp cả hai chiếc quan tài đang chuyển động. Chúng dịch chuyển từng phân từng phân một, trượt dần xuống dưới. Qua một lúc, nắp áo quan đã hé ra một khoảng trống lớn bằng nửa thân người.
Nằm dưới đất, Phạm Đình Sơn bỗng thấy trên thành quan tài thấp thoáng một vật đen đúa.
Đó chính là một bàn tay.
Đột nhiên, từ phía trong hai chiếc quan tài, hàng tràng những tiếng chít chít vang lên, như thể có vô số con chuột đang bị mắc bẫy bên trong, phải cố vùng vẫy để thoát ra. Thứ âm thanh này cao vút, mỗi tiếng kêu đều khiến người ta đinh tai nhức óc. Vô số những tiếng kêu như thế, tạo nên một thứ tạp âm dị thường.
Từ trong quan tài, thình lình có hai bóng đen vụt nhóm dậy. Hai cái bóng ấy từ từ quay về phía Phạm Đình Sơn, nhìn lão chằm chằm bằng hai con mắt trắng dã.
Bỗng nhiên, trong quan tài tuôn ra vô số chuột, con to con bé, con béo con gầy. Số chuột này bò tán loạn ra khỏi quan tài, trong phút chốc đã đến cả trăm con.
Bỗng lại nghe phừng một tiếng. Phạm Đình Sơn thấy mắt mình lóa đi trong chốc lát, thì ra có hai ngọn lửa lớn vụt bốc lên từ phía trong những chiếc quan tài, cao đến mấy trượng.
Phút chốc, tiếng chuột kêu càng nhiều và dữ dội hơn. Từ trong quan tài, số chuột chạy ra ngày càng đông. Tất thảy đều bốc cháy dữ dội như những ngọn đuốc sống.
Kỳ lạ thay, khi ngọn lửa bốc lên, đám chuột không chạy tán loạn nữa mà bâu cả về phía Phạm Đình Sơn. Lão bị bao bọc bởi bầy chuột, cả thân hình cũng bắt lửa, trong chốc lát lão đã trở thành ngọn đuốc sống.
Phạm Đình Sơn quằn quại kêu la thảm thiết, nhưng một con chuột thình lình chui vào họng lão khiến tiếng thét của lão tắt lịm. Phạm Đình Sơn lăn lộn một hồi trên nền đất rồi bất động Bầy chuột vẫn không ngừng lao ra từ phía hai cỗ quan tài. Sau khi Phạm Đình Sơn cháy thành than, chúng chuyển hướng, chạy thẳng về phía nhà lão. Căn nhà của họ Phạm cũng bị thiêu rụi.
Sáng hôm sau, người làng ấy biết tin trong một đêm có hai người chết. Một là Phạm Đình Sơn, hai là Trần Tâm, đứa con thứ ba của Trần Lâm. Tối qua, khi Thị Mướp về đến nhà mới hay tin con mình bị chết ngạt. Là bởi người vú em nghe theo lời dặn của thị, nhất quyết không để đứa bé khóc kêu thành tiếng, khi bịt miệng thằng bé lại vô ý bịt cả mũi nó, khiến thằng bé chết ngạt lúc nào không hay. Thị Mướp từ ấy phát điên.
Dòng họ Phạm Đình bây giờ chỉ còn lại con của Sơn là Phạm Đình Quyết. Hôm xảy ra biến cố, hắn theo mẹ về nhà ngoại. Sau đó chỉ nửa tháng, mẹ hắn lấy chồng mới, đuổi hắn ra khỏi nhà.
Thị quả quyết rằng Quyết không phải là con thị, hắn chỉ là con riêng của Phạm Đình Sơn với ma cho nên thị không cần phải nuôi hắn. Mọi người vốn cũng tin lời đồn về chuyện nhà họ Phạm có con với ma nên đa số đều nghĩ thị nói thật.
Nhà ngoại Quyết không ai nhận nuôi hắn, nhà nội thì nhiều đời độc đinh nên cũng không có họ hàng nào, từ ấy Quyết trở thành tứ cố vô thân. Người trong làng từ sau việc Phạm Đình Sơn tham vàng phụ nghĩa cũng không ai muốn cưu mang Quyết nữa. Cuối cùng Quyết đành phải tha phương cầu thực. Ai cũng nghĩ nhà họ Phạm đến đây là dứt.

Bình Luận

0 Thảo luận