N
gọc và Quyết cùng về phủ của Chử Cao Sơn để tìm cách trị thương. Chử Cao Sơn vốn là người có tài, lập được nhiều công lao, lại theo hầu nhà chúa từ lâu, bởi vậy gã rất được trọng dụng, đương nhiên dinh thự của gã cũng rất xa hoa lộng lẫy.
Chử Cao Sơn vừa về đến phủ, lập tức sắp đặt một phòng lớn cho Quyết ở. Ở giữa phòng ấy có một lư hương rất lớn, mùi trầm hương tỏa ra ngào ngạt. Chăn gối trong phòng đều làm từ loại tơ lụa hảo hạng.
Chử Cao Sơn tính tình hào sảng phóng khoáng, tuy không phải là người tinh tế nhưng lại trải đời. Gã mới nhìn qua đôi trẻ, thấy mắt Ngọc không rời khỏi Quyết thì đoán ngay hai người này có tình ý. Gã bèn sai người đưa Quyết và Ngọc vào chung một phòng. Ngọc thấy gã sắp xếp như thế, trong lòng thẹn thùng, mà lại không dám mở miệng thanh minh, thành ra nhất thời chưa biết làm thế nào, đôi má thiếu nữ lại ửng hồng.
Quyết vừa dọn tới chưa được một tuần hương thì có mấy người mở cửa bước vào. Đi đầu là Chử Cao Sơn, ba người đi theo đều hao hao giống gã. Ba người ấy đều là anh em ruột của Chử Cao Sơn, lần lượt tên là Chử Cao Thủy, Chử Cao Vân, Chử Cao Hải. Nhà họ Chử năm anh em, gọi là "Chử gia ngũ đại tướng". Người em út là Chử Cao Giang, đang bận việc, không tới được.
Đi sau cùng là một ông già. Ông già này mới thoáng thấy Quyết đã giật mình, bước nhanh tới giường, nhìn Quyết trân trân, miệng lẩm bẩm:
- Khổ thân chưa, khổ thân chưa...
Ngọc thấy ông cụ có thái độ sửng sốt rồi thương cảm như thế, đoán là ông cụ có biết Quyết từ trước.
Ông cụ này tóc bạc trắng, da căng như người trẻ tuổi. Một hàng râu quai nón lưa thưa ôm lấy khuôn mặt. Dù đã cao tuổi nhưng đôi mắt ông cụ đen và rất sáng. Người này là cụ Chiêu Bảy, cũng chính là danh y Lê Hữu Trác.
Cụ Trác có tên Chiêu Bảy bởi cụ sinh ra là con thứ bảy trong nhà. Có điều người trong giới vu nhân chỉ biết đến cụ Chiêu Bảy có tài trị tà như thần, trong dân gian lại chỉ biết đến Hải Thượng Lãn Ông cứu người như tiên. Hai cái tên này tuy lừng lẫy như nhau, có điều, số người biết được cả hai là một có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Cụ Trác vốn dĩ thông hiểu y lý, nắm vững về cơ thể con người, sau này nhờ vào sự thông minh và hiểu biết cứu chữa cho nhiều vu nhân trúng tà. Bởi lẽ, cơ thể con người khi chống chọi lại bệnh tật cũng như tà phép đều có những nguyên tắc nhất định, chỉ là cách chữa biến hóa khác nhau. Dần dần người này truyền người kia, vu nhân đến nhờ cụ chữa càng ngày càng nhiều. Cụ càng chữa càng có nhiều kinh nghiệm, càng hiểu biết hơn về phản ứng cơ thể với tác động của ma lực bên ngoài.
Khác với các bệnh nhân thông thường, người bị trúng tà thường có biểu hiện không giống nhau, cũng có các nguyên nhân khác nhau, diễn biến lại càng đa dạng. Có thể nói mỗi lần trừ tà lại có một phương pháp nhất định, nếu không chữa đúng thì không thể thành công.
Có điều, khác với cụ Tả Ao chuyên nghề địa lý, kiến thức về huyền thuật rất sâu rộng, cụ Trác chỉ chuyên tâm cứu chữa, ma lực không có, lại không hiểu về âm binh bùa chú. Khi bị trúng tà, thường thì nạn nhân hoặc người đi cùng nói rõ cho cụ nguyên nhân, từ đó cụ mới suy nghĩ tìm cách trị giải. Ngay cả phép yểm hạ lưu như hãm thi yểm cụ cũng không biết, suýt chút nữa hại đến cố nhân.
Cụ Trác vốn có ý muốn giấu thân phận thật của mình, mỗi khi chữa trị đều dùng thân phận cụ Chiêu Bảy để hành nghề, vậy nên chẳng có mấy ai biết cụ Chiêu Bảy và cụ Lê Hữu Trác là một. Danh tiếng cụ trong giới vu nhân tuy cao nhưng không mấy ai được biết rõ tung tích, thân thế cụ.
Riêng nhà họ Chử lại có giao tình rất sâu với cụ Chiêu Bảy, nhờ thế mới biết rõ về lai lịch cụ. Lần này cụ Trác thượng kinh cũng chính là do Chử Cao Sơn nghi thế tử trúng phải tà phép, mới mời cụ Trác đích thân xem xét.
Lại nói lúc ấy phía sau cụ Trác là mấy người theo hầu. Trong số này chỉ có một tên bước vào, còn lại đều nghiêm cẩn đứng ở bên ngoài phòng đợi lệnh.
Ba người anh em của Chử Cao Sơn, mặc dù cả đời chưa bao giờ biết mặt Quyết, nhưng thái độ đối với hắn rất trân trọng, vẻ lo lắng xót xa lộ rõ trên mặt. Mấy người này biết Quyết đang mệt mỏi, nên chỉ đứng nhìn rồi hỏi han Ngọc về bệnh tình của hắn.
Trong lúc mấy người họ Chử hỏi chuyện Ngọc thì cụ Trác cầm lấy tay Quyết, đoạn cụ đưa khẽ bàn tay ra, người hầu đứng sau như đã chờ sẵn, dâng lên một bát nước. Cụ Trác nhúng ngón tay Quyết vào đó, lắc nhẹ. Tiếp tới, cụ trả bát nước cho người hầu mang đi rồi lại đưa ngón tay Quyết lên miệng, ngậm lấy.
Cụ Trác vừa ngậm ngón tay Quyết vừa chau mày suy nghĩ. Ngọc vốn nghĩ ông cụ sẽ bắt mạch hay hỏi han bệnh tình như các thầy lang khác vẫn làm, nào ngờ cách xem bệnh của cụ lại lạ lùng như vậy, nhất thời nàng cứ trân trân ngó nhìn.
Qua một hồi, cụ Trác khẽ khàng nâng bàn tay Quyết, đưa về phía trước. Người hầu khi nãy đã cầm một bát nước khác, đón lấy, rửa tay cho Quyết. Cụ Trác đứng dậy đi về phía bàn, lại hỏi Ngọc về nguyên do Quyết dở sống dở chết. Ngọc vừa kể cho anh em họ Chử nghe, bấy giờ cụ Trác hỏi, nàng lại đem chuyện phá phép hãm yểm tra, kể rành mạch một lượt.
Cụ Trác nghe một lượt rồi ngồi nhắm mắt, định thần. Bốn anh em họ Chỉ biết cụ đang chẩn bệnh. Tính cụ vốn cẩn thận, dù bệnh rõ mười mươi nhưng mỗi khi phán bệnh đều nhẩm lại trong đầu một lượt các biểu hiện, lại phản biện các phán bệnh rất nhiều lần mới đưa ra kết luận cuối cùng.
Sau thời gian uống xong một tuần trà, cụ Trác từ từ mở mắt ra. Anh em họ Chử thấy cụ đã xem bệnh xong, liền quây quần quanh chiếc bàn lớn giữa nhà, chăm chú nhìn cụ Trác, chờ cụ phán bệnh.
Cụ Trác nói:
- Cậu bé này, cơ thể mười phần thì đến chín là khí âm. Chất khí này vừa nặng mà vừa có sát tính, người này đúng là có sức chịu đựng phi thường, nếu không thì đã sớm bỏ mạng rồi.
Chử Cao Sơn thuật lại thân thế Quyết, nói rõ vì sao hắn có thể chịu đựng được âm khí mạnh như thế.
Cụ Trác gật gù:
- Thảo nào, con nhà tông có khác, mới nhìn đã biết ngay tấm áo liệm bị yểm...
Mọi người có mặt trong phòng khi ấy chỉ có Quyết là biết việc tấm áo liệm và chuyện tình duyên năm xưa của cụ với bà sư già. Nghe thấy cụ lẩm bẩm như thế, ai nấy đều lấy làm lạ, nhưng cũng không dám hỏi.
Rồi đột nhiên cụ nói:
- Nhưng có một chuyện ta không hiểu.
Chử Cao Sơn nói:
- Xin cụ cứ nói.
Cụ Trác hỏi:
- Vì lẽ gì mà trong người hắn có một luồng áp lực mạnh mẽ, hễ ta dùng dương khí áp vào thì lập tức bị đẩy ngược trở lại, mà ta điều âm khí vào thì cũng bị ngăn trở. Luồng áp lực này giống như một tấm khiên hộ vệ cho người này vậy, thực là khó hiểu.
Đến đây thì bọn Chử Cao Sơn càng mù mờ, không biết nguyên do. Trong phòng im phăng phắc, không khí cực kỳ căng thẳng. Cụ Trác lẩm bẩm một lúc rồi thốt lên:
- À phải rồi, chính là do soái vong.
Năm anh em họ Chử nghe thấy thế thì đều ngạc nhiên. Nguyên là họ không biết được chuyện soái vong.
Cụ Trác nói:
- Âm khí tràn ngập cơ thể thế này, khiến cho con người u mê. Dương không thắng được âm khiến cho khí của ngũ tạng giao tranh với nhau, dẫn tới chín khiếu không thông. Người nhà họ Phạm mấy đời tu luyện phép âm, luôn cố gắng để âm khí trong người tuy áp đảo dương khí nhưng chín khiếu vẫn lưu thông, tinh thần vẫn minh mẫn. Có điều, họ vẫn luôn phải duy trì một lượng dương khí nhất định, bởi khả năng chịu đựng của con người có hạn. Vu Nhân Hộ Pháp bị chôn sống ngay tử huyệt mang sát khí âm, cơ thể hấp thụ thứ âm khí này, dù được soái vong dùng năng lực cản trở bớt, nhưng dương khí vốn đã ít, nay cơ thể lại tích quá nhiều âm khí. Dương khí trong thân thể con người ta giống như mặt trời trong không trung, nhờ mặt trời mà không trung mới có ánh sáng. Cho nên nếu dương khí trong nhân thể không còn đủ thì e rằng... Bây giờ việc cần thiết là phải bổ sung thêm dương khí cho Vu Nhân Hộ Pháp.
Cụ Trác trình bày dài dòng một hồi, đa số mọi người đều không hiểu hết, ai ai cũng nóng ruột nóng gan chỉ mong cụ kết luận là có chữa được không.
Cụ Trác lại nói tiếp:
- Bệnh tình bây giờ, phải truyền được dương khí vào cơ thể thì mới khỏi được. Ngặt một nỗi, cơ thể Vu Nhân Hộ Pháp bây giờ muốn truyền khí vào thực không dễ chút nào. Chẳng những thế, nếu dùng luồng dương khí quá mạnh mẽ cưỡng ép tống đẩy vào thì khí âm dương trong cơ thể sẽ giao tranh mãnh liệt, khó tránh khỏi tử vong.
Chử Cao Sơn sốt ruột hỏi:
- Vậy rốt cuộc có cách nào không cụ?
Cụ Trác đáp:
- Có thì có, nhưng nguy hiểm.
Chử Cao Sơn lại nói:
- Xin cụ nói rõ cho.
Cụ Trác nói:
- Việc này tổn thương dương khí của ông nhiều, mà tình hình bây giờ đang lúc lâm địch, ta e rằng...
Chử Cao Sơn hiểu ý cụ muốn mình truyền dương khí cho Quyết. Gã nói:
- Việc này không lo, chúng tôi có đến năm anh em, tôi có việc gì thì còn có anh em trợ giúp. Từ mấy đời nay, tổ tiên chúng tôi đều có di huấn phải tìm dịp đền ơn họ Phạm, chỉ ngặt một nỗi, người nhà họ Phạm chẳng những pháp lực cao cường mà hành động kín kẽ, trước nay chưa gặp nguy bao giờ. Chỉ đến đời Vu Nhân Hộ Pháp trước đây, người hành sự có phần bất cẩn mới bị Hàng Long Giáo nắm được điểm yếu mà gia hại. Năm anh em tôi không ăn không uống, đi suốt mấy ngày đêm, đến nơi thì thấy người đã chết rồi, đến hậu duệ cũng không tìm được nữa. Hỏi thăm mãi mới được tin con cháu họ Phạm phải tha phương cầu thực, chúng tôi lòng đau như cắt.
Cụ Trác chỉ chuyên tâm cứu người, đối với chuyện nhân tình thế thái trong Trấn Quốc Hội cụ cũng không mặn mà lắm. Có điều cụ biết trong nhà Chử Cao Sơn mấy hôm nay xuất hiện điều kỳ quái, toàn bộ gia tộc đều hết sức cảnh giác đề phòng. Đó chính là việc tìm được vật yểm ngay tại kinh thành.
Cụ nói:
- Việc này tôi không dám cản ông, nhưng cần cân nhắc cho cặn kẽ mới được. Bây giờ đang lúc có nhiều biến cố như thế, ông không thể vắng mặt được.
Chử Cao Sơn quả quyết:
- Chuyện này cứ như vậy mà làm, xin cụ giúp cho.
Cụ Trác biết không khuyên được Chử Cao Sơn, đành thở dài, rồi dặn dò những việc cần thiết.
Chợt phía bên ngoài có tiếng người bẩm:
- Thưa, có việc khẩn báo.
Chử Cao Sơn cho người này vào. Đó là một tên lính hầu, gã thở hổn hển như thể vừa chạy một quãng đường dài.
- Bẩm ông, bên ngoài phủ chúa có việc lạ. Không biết từ đâu tụ tập rất nhiều vong.
Chử Cao Sơn nói:
- Các phi hiện đang thụ thai, chắc cũng sắp đến ngày lâm bồn, việc này chẳng có chi là lạ.
Các phi tên thật là Chử Ngọc Huyền, là con gái yêu của Chử Cao Sơn, được Trịnh Sâm thu làm thiếp. Chử Ngọc Huyền nhan sắc có phần khiêm nhường, không phải hạng sắc nước hương trời như Đặng Thị Huệ, thế nên cũng ít được Trịnh Sâm sủng ái. Cuộc hôn nhân này chẳng qua là muốn làm đẹp lòng họ Chử mà thôi.
Chử Cao Sơn biết vậy, liền khéo léo sắp đặt, ngay trong đêm động phòng, Sơn dặn con gái lén bỏ vào rượu một loại thuốc có tên là Cuồng Mã Dược. Loại thuốc này được tính cực mạnh, người nam nào uống phải, chẳng những dục vọng tràn trề mà cơ thể cực kỳ sung mãn. Thế là trong mấy ngày mấy đêm, chúa Trịnh chẳng thể nào rời khỏi tân phòng, tinh thần mê mẩn, cơ thể phấn chấn. Trong ba ngày ba đêm đó, chỉ trừ lúc ăn uống, vệ sinh, còn lại toàn bộ thời gian đều dành cho việc ân ái với Chử Ngọc Huyền.
Nhờ thế, độ nửa tháng sau, Các phi đã thụ thai. Cái thai này rất quan trọng với nhà họ Chử. Là vì, chúa Trịnh khi ấy có hai người con trai là Trịnh Khải và Trịnh Cán. Trịnh Khải là con trưởng, thuộc dòng chính thất, về lý mà nói đương nhiên được truyền ngôi chúa. Thế nhưng thế lực của Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Bảo rất lớn, Thị Huệ từ lâu đã mưu lập con mình làm chúa. Ả và nhà họ Chử không ưa nhau, nguyên nhân là vì Thị Huệ trước có ý muốn cùng Chử Cao Sơn kết thành bè đảng nhưng Chử Cao Sơn không chịu. Nào ngờ chỉ trong mấy năm, Đặng Thị Huệ cùng Hoàng Đình Bảo có thể tạo thành thế lực mạnh mẽ như bây giờ.
Chử Cao Sơn thấy thế thì lo lắng lắm, song hối hận không kịp nữa. Gã bèn nảy ra ý gả con gái cho Trịnh Sâm. Việc cái thai này là trai hay gái tạm thời còn chưa thể rõ được, một khi chúa Trịnh mất đi, đương nhiên nhà họ Chử cũng không được yên thân với Thị Huệ.
Lại nói, chuyện những vong hồn trong nhân gian, vẫn thường tụ lại ở những nhà giàu có hoặc quyền quý sắp có người sinh sản. Bởi vì, việc đầu thai là việc của trời đất, vong hồn được chọn đã định rồi, không thể nào thay đổi được, tuy nhiên, vào thời khắc đứa trẻ vừa ra đời, chưa kịp khóc, nếu có vong nào nhanh chóng nhập được vào thân thể nhỏ bé đó, thì hồn ma không còn là hồn mượn xác nữa, mà đương nhiên sẽ sở hữu luôn cơ thể đó.
Những nhà càng giàu có hay quyền quý, số lượng vong tụ tập gần nhà càng nhiều, bởi vậy nên họ thường yểm bùa rất kỹ lưỡng quanh nhà để trừ tà ma. Những nhà nghèo ít khi được các vong chú ý tới, bởi không mấy vong thích đầu thai vào nhà nghèo. Những nhà nghèo thì không có tiền thuê thầy, nên chỉ làm trấn yểm sơ sài như treo tấm gương bát quái, đặt bùa trên giường sản phụ, treo tỏi hay phân đứa trẻ mới sinh ở cửa nhà mà thôi.
Phủ chúa là nơi đệ nhất tôn quý ở Đại Nam, bởi vậy, việc vong tụ tại nơi này trong thời khắc Các phi sắp lâm bồn vốn không có gì lạ. Ngày Thị Huệ sinh Trịnh Cán, bởi ả không tin Chử Cao Sơn, mới nhờ một phù thủy khác trấn yểm phòng mình. Phù thủy này tên Nguyễn Tùng, tuy chỉ là một phù thủy tầm thường, không thuộc vào Trấn Quốc Hội nhưng lại là người cùng làng với Thị Huệ nên được ả tin dùng. Thị Huệ ngày ấy cự tuyệt không cho Chử Cao Sơn hộ vệ phòng mình, chúa Trịnh nói thế nào cũng không nghe, đành chiều ý ả. Chỉ Cao Sơn cảm thấy mất mặt, nên sau này mới từ chối kết bè đảng với ả.
Ngày Thị Huệ sinh, số vong đông có đến hàng nghìn, phép yểm của Nguyễn Tùng không ngăn được, cuối cùng bị phá vỡ, một vong mạnh nhất chiếm lấy thể của Trịnh Cán. Sau này chúa Trịnh phải sai Chử Cao Sơn trục vong, gọi hồn Trịnh Cán về. Đối với trẻ sơ sinh, việc dụng phép không thể tùy tiện, bởi thân thể còn yếu đuối, non nớt, sức chịu đựng không cao như người lớn.
Ngày ấy, Chử Cao Sơn phải diệt vong trong thể Trịnh Cán mất bốn mươi chín ngày, vừa lao tâm khổ tứ dò tìm vong về, đồng thời bảo vệ cái xác không hồn ấy. Việc đưa được hồn của Trịnh Cán về giữa đám vong vẫn tụ tập xung quanh, thực chẳng khác gì tích Triệu Tử Long trong trận tiền tả xung hữu đột cứu ấu chúa ngày xưa. Việc làm này của Chử Cao Sơn giúp gã có được danh tiếng tột đỉnh trong giới huyền thuật bấy giờ. Thế nhưng, bởi sớm bị áp vong như thế, nên cơ thể Trịnh Cán gầy gò, yếu ớt bệnh tật luôn. Bởi vậy, chúa Trịnh phải triệu cả cụ Lê Hữu Trác từ xứ Nghệ xa xôi về trị bệnh cho Cán.
Có điều, tính khí Chử Cao Sơn vẫn có cái tự cao tự đại. Khi Thị Huệ cảm cái ơn Sơn giúp mình cứu con, muốn cùng gã kết thành bè đảng, gã lại cự tuyệt thẳng thừng. Khi ấy, thế lực của Thị Huệ chưa mạnh mẽ như hiện nay. Bây giờ Sơn hối lại thì cũng đã muộn rồi, không thể nào trở thù thành bạn được nữa.
Việc Các phi mang thai hệ trọng như thế, đương nhiên được Chử Cao Sơn sắp đặt chu đáo, đâu cần phải để đến khi tên lính hầu này bẩm báo hắn mới biết vong tụ lại.
Bấy giờ, tên lính mới nói:
- Bẩm, vong đông lắm ạ, Ngũ gia sai con về bẩm ngài.
Ngũ gia chính là Chử Cao Giang. Gã phụng mệnh hộ vệ Các phi nên hôm nay không có trong phủ. Chử Cao Thủy, người con thứ hai của nhà họ Chử, vốn trầm tính, thận trọng, bèn nói:
- Anh nên xem cẩn thận, việc này không thể nào coi nhẹ được, nhất là khi Đông Kinh "đang có bão".
Mấy từ "đang có bão" của Thủy ám chỉ các sự lạ gần đây Đông Kinh.
Chử Cao Sơn xua tay, nói:
- Chỉ là mấy việc trong tầm tay, nếu chú Năm thấy khó khăn, lẽ nào ba anh em các chú hợp lại không thắng nổi lũ vong hồn ấy. Chẳng phải tổ tiên vẫn dạy ta phải chờ dịp báo ân họ Phạm sao? Bây giờ có cơ hội rồi, ta là con trưởng mà lại thoái thác, để người không hiểu nói ta viện cớ không cứu người, thì còn gì là thể diện nhà chúng ta nữa?
Mấy anh em đều biết, tính Chử Cao Sơn thẳng thắn nhưng ngoan cố, lại làm chủ gia tộc từ sớm nên cực kỳ gia trưởng, một khi đã quyết thì không ai có thể can được.
Chử Cao Thủy thấy thế liền nói:
- Anh Cả đã quyết như thế, vậy thì chú Ba, chú Tư sang phủ chúa với chú Năm, ta ở đây với anh Cả.
Mọi người đều thấy Chử Cao Thủy phân công như thế là phải lắm. Chử Cao Thủy là người tài phép thứ hai trong nhà, ở lại để đề phòng có gì bất trắc thì có thể dùng công lực của mình mà hỗ trợ Chử Cao Sơn.
Nhà họ Chử có lệ rất lạ, trong các anh em, không phân biệt ai sinh trước sinh sau, cứ tùy vào pháp lực mà phân ngôi thứ. Bởi thế, dù Sơn là con thứ tư trong gia đình nhưng pháp lực cao nhất, được tôn là anh Cả.
Bấy giờ lại có mấy người ở ngoài, mang theo những vật mà cụ Trác dặn, xin vào trong.
Ngọc từ bấy đến giờ ngồi nghe mọi chuyện, không để tâm đến việc Các phi hay Các hậu thế nào, cũng không quan tâm vong hồn nhiều hay ít. Nàng chỉ ngong ngóng một là Chử Cao Sơn chữa sớm cho Quyết, hai là có chuyện gì liên quan đến em nàng hay không. Bây giờ thấy bọn người dưới đã mang đồ dùng đến thì mừng lắm.
Bọn người hầu lần lượt mang vào một cái vòng bằng bạc, một hộp gỗ, một que tre, một tấm phản, một chậu nhỏ và một chậu lớn. Chậu lớn bốc khói nghi ngút, bên trong có chứa mười cái bát lớn, mỗi bát đều chứa thứ chất lỏng đỏ tươi. Trong chậu, nước nóng được đổ đến ngang lưng bát.
Cụ Trác khẽ nói với Chử Cao Sơn:
- Ông hãy uống đi.
Sơn gật đầu, bước tới bên chậu, lần lượt uống mười hớp hết mười bát. Trên mép gã, một dòng dịch đỏ chảy dài như máu khiến khuôn mặt gã trông rất đáng sợ.
Cụ Trác thấy Sơn đã uống xong, bèn thắp một ngọn hương, đoạn lại cầm cái vòng bạc, quấn quanh cổ Quyết. Cái vòng bạc này được chế rất tinh xảo, lại rất vừa vặn với cổ Quyết. Cụ Trác lại mở cái hộp gỗ ra, bên trong cơ man là kim dùng để châm cứu, đủ loại dài ngắn khác nhau.
Cụ Trác đưa tay, đo lấy khoảng cách từ khóe miệng Quyết xuống được bốn thốn, lại chỉnh lại vị trí vàng bạc, để trục chính giữa mặt đi qua một cái chấm nhỏ trên vòng rồi vặn cái lẫy được chế sẵn. Chỉ nghe tách một cái vòng đã siết chặt lấy cổ Quyết.
Đoạn, cụ Trác lại lấy ra một cây kim Hoàn Khiêu, lần tìm trên vòng một cái lỗ nhỏ xíu, bặm môi, đâm xuyên qua cổ Quyết. Ngọc kinh hãi, suýt nữa thì buột miệng kêu lên, nhưng nàng biết đây chính là thời khắc quan trọng sống còn của Quyết nên kịp nén tiếng la hoảng vào trong.
Lại nói cây kim sau khi đi qua cổ Quyết, xuyên qua một cái lỗ rất nhỏ phía bên kia của vòng bạc. Cụ Trác lại rút một cái kim khác, châm tiếp. Lần lượt như thế, cuối cùng đã có ba cây kim dài đâm xuyên qua cổ Quyết tạo thành hình tam giác đều. Vì phải tập trung cao độ nên chỉ trong chốc lát, mồ hôi đã lấm tấm trên trán cụ. Đoạn, cụ lấy trong hộp ra một viên tễ nhỏ, bỏ vào miệng Quyết.
Hiển nhiên rất khó đâm xuyên chính xác như cụ, bởi đường kim chỉ cần chạy chệch một li thì không thể nào chui qua được cái lỗ thứ hai. Để luyện được công phu này, cụ Trác phải mất rất nhiều công sức. Thuật này vốn được dùng để gây tê cho những thương binh cần phải cắt bỏ tay chân, bởi nó cắt đứt cảm giác ở đầu với cơ thể.
Mới đầu cụ Trác phải luyện với cây chuối, sau thực hành trên động vật như chó mèo, tiếp nữa mang ra áp dụng với người chết, sau cùng mới đến người sống. Nếu không phải được thực nghiệm trên vô số xác binh lính trong các cuộc chinh phạt của họ Trịnh khi có đảng cướp nổi dậy, chắc hẳn Trác không thể luyện thành được. Đương nhiên, công phu này đời sau, khó có ai có thể luyện thành nữa.
Việc dùng kim đâm qua cổ có mục đích cô lập toàn bộ phần đầu với cơ thể phía bên dưới. Bây giờ toàn bộ kinh mạch khí huyết trên đầu của Quyết đã bị phong tỏa. Về lý mà nói, bây giờ cái đầu của Quyết với cái đầu của tử tù phạm tội bị chặt đầu không có gì khác biệt. Các bộ phận trong cơ thể con người ta phải được cung cấp máu mới có thể sống được. Viên tễ kia là một loại thuốc đặc biệt, được chế để tan ngay trong miệng, tác dụng của nó cũng giống như máu giúp nuôi sống bộ não.
Cụ Trác lại quay sang Chử Cao Sơn, bấy giờ thấy mặt mũi gã đỏ gay gắt như người say rượu, cụ biết thuốc đang phát huy dược tính. Nguyên là mười cái bát kia chứa tiết gà mới cắt vẫn còn chưa đông, lại được hòa thêm thuốc do cụ Trác tự chế lấy. Thứ thuốc này giúp cho dương khí trong người được nhân lên mấy lần. Có điều, nếu không phải là người có sức lực mạnh mẽ thì không chịu nổi thứ dương khí này, thành ra trong nhà họ Chử, Chử Cao Sơn công lực cao nhất, là người có cơ địa thích hợp nhất để dùng mười bát thuốc kia.
Nhận thấy ánh mắt Sơn đang nhìn mình chờ đợi, cụ gật đầu, lập tức gã đưa tay lên đỉnh đầu Quyết, ngay vị trí huyệt Bách Hội, rồi dồn dương khí vào cơ thể Quyết.
Được một thời gian, khuôn mặt Quyết dần biến đổi, lúc xanh xám, lúc đỏ gay, mà đầu lúc nóng lúc lạnh. Đó chính là khi âm khí và dương khí đang giao tranh trong đầu hắn. Phần người bên dưới hắn vẫn lạnh lẽo như ban đầu.
Cụ Trác cầm mấy cây hào châm, châm lên cổ hắn. Qua một thời gian, gương mặt Quyết dần dần trở lại như bình thường. Những cây hào châm có tác dụng để dẫn âm khí thoát ra ngoài mà vẫn giữ lại dương khí.
Bấy giờ cây hương cháy sắp tàn, chỉ còn độ nửa đốt ngón tay. Thời gian bây giờ thực quan trọng vô cùng, bởi nếu tay Sơn để lâu quá thì đầu Quyết lại chỉ toàn dương khí, mà bỏ ra sớm thì không đủ dương khí cho cả cơ thể Quyết sau này.
Tính được khoảng thời gian thông qua sắc mặt người bệnh, đương nhiên cũng chỉ có cụ Trác mới làm được. Qua một lúc, cụ Trác cầm lấy que tre, hất tay Sơn ra. Ngay lập tức, người Sơn mềm nhũn, chực gục xuống. Bấy giờ Thủy ở sau đã đợi sẵn, đỡ ngay lấy mà bế gã đặt lên tấm sập lớn kê gần đó.
Đoạn, Chử Cao Thủy đặt vào miệng Sơn một viên tễ khác. Cụ Trác nhìn Sơn rồi gật đầu với Thủy, ra ý bảo không có gì nguy hiểm. Cả hai đều biết bấy giờ dương khí của Sơn bị suy giảm nghiêm trọng, nhưng tất sẽ hồi phục được, không có gì phải lo lắng. Điều đáng lo nhất là trong quá trình dồn dương khí sang cho Quyết, nếu đã truyền hết toàn lực mà chưa đầy được âm khí ra đủ nhiều thì người bệnh sẽ tử vong, còn nếu y vụ đoán nhầm thời gian thì người truyền sẽ tử vong. Bây giờ đã kết thúc truyền khí mà Sơn vẫn thở bình thường cho nên không có gì phải lo ngại nữa.
Lúc này, mặt Quyết lại đỏ như mặt Sơn ban nãy, bởi dương khí đang tràn ngập trong đầu hắn. Cụ Trác lại tháo hết tất cả các hào châm cùng ba cây trường châm và cả cái vòng bạc ra. Việc này cũng phải làm rất nhanh bởi nếu không thì phần đầu cũng không chịu nổi quá nhiều dương khí như thế trong một lúc.
Cái vòng vừa được tháo ra, lập tức, Quyết ho một trận dữ dội. Hắn ho đến gập người một hồi, tên hầu lập tức cầm lấy cái chậu nhỏ đặt trước mặt Quyết, chợt nghe phọc một cái, Quyết nôn xối xả.
Quyết nôn đến ba lần mới dứt hẳn, hắn thở hồng hộc, nhưng tựu trung lại, hắn đã tỉnh táo hơn.
Mọi người trong phòng, chỉ trừ có Chử Cao Sơn đang ngất đi, thấy hắn tỉnh như thế đều lấy làm mừng lắm.
Quyết vẫn còn mệt mỏi, chỉ đưa mắt nhìn mọi người một lượt.
Bình Luận
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
0 Thảo luận